Học nghề kế toán ở đâu tốt nhất

0 Bạn hiểu về tính hữu ích của Báo cáo tài chính như thế nào?



Mục tiêu của Báo cáo tài chính là cung cấp các thông tin tài chính hữu ích cho người sử dụng trong việc ra quyết định kinh tế. Tuy nhiên, khi các nguyên tắc, yêu cầu, hướng dẫn lập và trình bày Báo cáo tài chính không rõ ràng và đầy đủ, thiếu tính đồng bộ, hay khó áp dụng, sẽ không đảm bảo được các tính chất (đáng tin cậy, có thể hiểu, so sánh được…), Báo cáo tài chính vì thế trở nên kém hữu ích. Thông tin tài chính hữu ích là đối tượng được quan tâm đặc biệt của nhiều tổ chức nghề nghiệp, nhà nghiên cứu, thực hành kế toán trên thế giới trong nhiều năm qua, với nhiều giác độ tiếp cận khác nhau.


Quan điểm của Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Tài chính Mỹ (FASB)

Khái niệm số 1 (1980), viết tắt là CON1, đoạn 32 nêu rõ: "các đặc trưng của thông tin giúp nó trở nên quý giá để dẫn dắt việc lựa chọn các chính sách kế toán được ưu tiên từ những phương án sẵn có. Chúng có thể được xem như một hệ thống thứ bậc các tính chất kế toán, hữu ích để ra quyết định trong những tình huống quan trọng."

Để trở nên hữu ích, thông tin tài chính phải thể hiện được từng tính chất trong một chừng mực tối thiểu. Mặc dù trong hệ thống có sự phân định giữa các tính chất sơ cấp và các tính chất khác nhưng không tính chất nào được chỉ định là ưu tiên hơn; hơn nữa, một loại tính chất nào đó có thể bị hy sinh để có được những tính chất khác mà không làm giảm sự hữu ích của thông tin (CON2, đoạn 31)

Thông tin kế toán khi được định hướng đến người sử dụng để ra quyết định trên cơ sở đáp ứng các tính chất làm cho trở nên hữu ích, nhưng tiến trình này đã gặp phải hai trở ngại quan trọng: Áp lực về cân đối lợi ích- chi phí: Việc cung cấp thông tin tài chính tiêu tốn nhiều chi phí để thu nhập, xử lý, soạn thảo các Báo cáo tài chính hoặc cho kiểm toán; hơn nữa còn phải xem xét các chi phí phát sinh từ phía người sử dụng như thu thập, phân tích, hay loại bỏ những thông tin thừa. Trong khi lợi ích mang lại từ thông tin, chẳng hạn sự đáp ứng một yêu cầu pháp lý, thương mại, hay củng cố hình ảnh tài chính của doanh nghiệp, tạo niềm tin cho khách hàng và giới đầu tư (đối với người soạn thảo), hoặc có thể là những kết quả phân tích, dự báo phù hợp và đáng tin cậy cho việc ra quyết định (đối với người sử dụng thông tin)…có thể không tương xứng với số tiền đã bỏ ra. Nói cách khác, tính hữu ích của thông tin tài chính bị giảm sút nếu chi phí vượt quá lợi ích mang lại từ việc cung cấp sử dụng thông tin. Điều này gây ra áp lực rất lớn đến việc cung cấp thông tin tài chính hữu ích nếu yêu cầu quá cao về lợi ích mang lại của thông tin từ phía nhà nước, người sử dụng so với khả năng đáp ứng của doanh nghiệp.

Trong những tình huống không chắc chắn, đòi hỏi phải có sự xét đoán của người làm kế toán hoặc những người liên quan trực tiếp khác như các kiểm toán viên, nhà phân tích về những sự kiện quan trọng có thể ảnh hưởng lớn đến việc ra quyết định của người sử dụng thông tin. Sự xét đoán về mức độ ảnh hưởng gắn liền với tính chất trọng yếu của sự kiện, trên phương diện tổng thể hoặc cục bộ, đặc biệt là ở khía cạnh định lượng. Do vậy, việc đưa ra các hướng dẫn hay tiêu chuẩn để giúp xác định các mức trọng yếu theo từng ngành, lĩnh vực hoạt động là điều cần thiết để các bên liên quan có được sự đảm bảo hợp lý khi đưa ra các xét đoán là không bị lệ thuộc nhiều vào các ngưỡng nhận thứ cá biệt nào, chẳng hạn như Bảng hướng dẫn các ví dụ về định lượng mức trọng yếu được FASB đưa ra trong CON2 trên cơ sở tham chiếu các hướng dẫn của SEC, APB. Điều này chắc chắn sẽ giúp tăng cường tính hữu ích của thông tin tài chính được cung cấp.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại thủ đức Trong hệ thống các tính chất kế toán thì sự phù hợp và đáng tin cậy là những khái niệm trung tâm của kế toán.

Để phù hợp (relevant), thông tin kế toán phải có năng lực tạo ra sự khác biệt trong một quyết định qua việc giúp cho người sử dụng thông tin thực hiện thiết lập các dự báo về kết quả của các sự kiện trong qúa khứ, hiện tại, hay tương lai, xác nhận hoặc hiệu chỉnh các kỳ vọng (CON2, đoạn 47). Một mặt, tính phù hợp của thông tin tài chính bao gồm hai thành tố là giá trị dự báo (predictive value) và giá trị phản hồi (feedback value), bởi vì không nhận thức được quá khứ thì không đủ cơ sở để dự báo, không có lợi ích trong tương lai thì nhận thức về quá khứ cũng vô dụng (CON2, đoạn 51), điều này thể hiện rất rõ trong các báo cáo giữa niên độ để thể hiện thành quả quá khứ lẫn dự báo thu thập thường niên trước khi kết thúc niên độ; mặt khác, tính kịp thời cũng được xem một khía cạnh lệ thuộc của tính phù hợp bởi nếu thông tin không sẵn có khi cần hoặc chỉ có sau khi các sự kiện đã được báo cáo rất lâu thì thông tin sẽ thiếu tính phù hợp và ít được sử dụng.

Tính tin cậy (reliability) cũng như tính phù hợp rất quan trọng để làm sáng tỏ thực chất của các yêu cầu để có được số liệu kế toán được mô tả một cách xác thực (CON2, đoạn 58). Thông tin kế toán đáng tin cậy khi người sử dụng thông tin có thể đặt niềm tin vào đó để ra quyết định, dựa trên hai đặc trưng quan trọng là trình bày trung thực (representational faithfulness) và có thể kiểm tra (verifiability), ngoài ra tính trung thực (neutrality) của thông tin cũng có quan hệ tương tác với hai đặc trưng trên để tác động lên tính hữu ích của thông tin (CON2, đoạn 62)

Thông tin tài chính của doanh nghiệp sẽ mang lại sự hữu ích to lớn nếu được so sánh với những thông tin tương tự về các doanh nghiệp khác hoặc so sánh với các thông tin qua các thời kì, thời điểm tại cùng một doanh nghiệp. Điều này càng được thể hiện rõ trong các quyết định cho vay, đầu tư bởi chúng được dựa trên sự ước lượng các cơ hội thay thế. Tuy nhiên, việc so sánh gặp nhiều khó khăn bởi có nhiều phương pháp kế toán khác nhau được chấp thuận trong nhiều năm, đây là nguyên nhân mang tính nguyên tắc để phát triển các chuẩn mực kế toán (CON2, đoạn 112)

Và quan điểm của Hội đồng Chuẩn mực kế toán tài chính Quốc tế (IASB)

Khuôn mẫu lý thuyết (framework) (được IASC phê chuẩn năm 1989 và tiếp tục được IASB kế thừa từ năm 2001), tại đoạn 24 đã xác định 4 đặc tính chủ yếu làm cho thông tin trên Báo cáo tài chính trở nên hữu ích đối với nhà đầu tư, cho vay và các đối tượng khác gồm: tính có thể hiểu, tính phù hợp, tính đáng tin cậy và tính có thể so sánh. Chúng được đặt trong ngữ cảnh ba cấp độ khuôn mẫu về khái niệm cho việc soạn thảo.

Nhìn chung, các tính chất của thông tin tài chính theo Framework cũng khá tương đồng với quan điểm của FASB, chẳng hạn diễn giải về tính có thể hiểu nêu trong Framework tại đoạn 25: thông tin phải được trình bày theo cách thức sao cho những người có trình độ nhận thức tương đối về kinh doanh, hoạt động kinh tế, kế toán và những người để tâm nghiên cứu thông tin có thể dễ dàng hiểu được, nội dung này không khác gì so với đoạn 34 của CON1. Và những nội dung liên quan đến các tính chất khác cũng được Framework đề cập một cách tương tự với FASB CON1 và CON2. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý một số điểm khác biệt giữa IASB và FASB liên quan đến các tính chất làm cho thông tin kế toán trở nên hữu ích, qua 3 quan điểm mấu chốt sau:

- Thứ nhất, mặc dù cả hai đều đề cập đến các đặc tính có thể hiểu, phù hợp, đáng tin cậy và có thể so sánh, nhưng Framework xem đó đều là những tính chất sơ cấp trong khi CON2 đưa ra một thứ bậc rõ ràng với mức độ sơ cấp dành cho tính đáng tin cậy và phù hợp, thứ cấp dành cho tính có thể so sánh, còn tính dễ hiểu đứng tách biệt với các tính chất khác và gắn với đặc thù của người sử dụng thông tin.

- Thứ hai, tính đáng tin cậy của thông tin trong Framework được dựa trên việc đảm bảo các yêu cầu về trình bày trung thực, nội dung hơn hình thức, khách quan, thận trọng và đầy đủ (các đoạn từ 33 đến 38), trong khi theo CON2 thì tính đáng tin cậy bao gồm ba thành phần là trình bày trung thực, có thể kiểm tra và trung lập (Hình 1-1)

- Thứ ba, tính phù hợp của thông tin trình bày trong Framework chủ yếu liên quan đến tính trọng yếu và kịp thời, chịu ảnh hưởng bởi bản chất và tính trọng yếu (đoạn 29), và sự chậm trễ trong báo cáo thông tin có thể làm mất đi tính phù hợp của thông tin (đoạn 43); trong khi đó CON2 cho rằng ngoài tính kịp thời, tính phù hợp còn bao gồm hai thành phần khác là giá trị dự báo và giá trị phản hồi (hình 1-1)

Cho đến nay, IASB và FASB đã có nhiều nỗ lực trong việc tìm kiếm sự hoà hợp trong quan điểm về các khái niệm, lý thuyết và thực hành kế toán, trong lúc đó, cả hai hiện vẫn đang là nguồn cung cấp tài liệu quan tham khảo, đối chiếu quan trọng nhất trong lĩnh vực kế toán trên thế giới.

Một số luận điểm khác liên quan đến tính hữu ích của thông tin.

Nhóm tác giả Collins, Maydaw và Weiss (1997) trên cơ sở đánh giá hồi quy trong giai đoạn từ 1953 đén 1993 nhận thấy: sự kết hợp giữa giá trị phù hợp của lợi nhuận và giá trị ghi sổ của TS không bị suy giảm trong 40 năm qua, thậm chí còn tăng lên một ít, hơn nữa các tác giả Fransis và Schipper (1996), Eley và Waymire (1996) nói chung đều đồng tình rằng mối liên hệ giữa các biến số của thông tin vốn và các dữ liệu tài chính cũng nhận được sự quan tâm đáng kể.

Nhóm tác giả Baruch Lev và Paul Zarowin (1998) của Đại học Newyork thì có quan điểm ngược lại. Theo đó, liên kết chéo giữa cổ tức và lợi nhuận báo cáo và liên quan đến sự hữu ích của thông tin về lợi nhuận đối với các nhà đầu tư đã suy giảm trong hơn hai mươi năm qua và tính nhất quán giữa thông tin được chuyển tải trong lợi nhuận báo cáo và thông tin phù hợp với các nhà đầu tư đã sụt giảm, bất chấp chất lượng của các dự báo của các nhà phân tích. Thậm chí, cho dù theo Collins thì sự liên kết giữa giá trị thị trường và lợi nhuận cùng gía trị ghi sổ có thể ổn định trong bốn mươi năm qua, nhưng những bằng chứng thu thập được cho thấy sự liên kết ấy bị giảm sút trong nửa giai đoạn sau. Lý giải về sự việc trên, Lev và Zarowin cho rằng hệ thống đo lường và báo cáo kế toán không đối phó tốt với sự thay đổi đang tác động sâu sắc đến hoạt động kinh doanh và giá trị thông tin của doanh nghiệp và chính tốc độ thay đổi quá nhanh của doanh nghiệp cùng với sự kiém hiệu quả của hệ thống kế toán trong xử lý các hậu quả của sự thay đổi là những nguyên nhân chính được viện dẫn cho sự suy giảm về tính hữu ích của thông tin tài chính [2, trang 13]. Lev và Zarowin đặt ra vấn đề là làm sao để ngăn chạn sự suy giảm về tính hữu ích của thông tin tài chính và từ đó đưa ra hai đề xuất để nâng cao tính hữu ích của thông tin tài chính, gồm vốn hoá các khoản đầu tư vô hình và trình bày lại một cách có hệ thống các Báo cáo tài chính hiện hành.
lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại quận bình dương
Ở một giác độ khác liên quan đến tính hữu ích của thông tin là sự cần thiết của hoạt động kiểm toán độc lập đối với Báo cáo tài chính, bởi lẽ có quá nhiều vấn đề nảy sinh trong quá trình soạn lập, cung cấp thông tin kế toán cho người sử dụng (như mâu thuẫn về lợi ích, khác biệt về nhu cầu sử dụng thông tin, quy trình thông tin - kế toán phức tạp, khả năng kiểm tra thấp) khiến cho thông tin kế toán trở nên thiếu độ tin cậy, không khách quan, chứa đựng nhiều rủi ro về sai sót, gian lận và do vậy, cần phải có sự kiểm tra độc lập, đủ trình độ chuyên môn của bên thứ ba.

Tuy nhiên, việc xem xét vai trò của kiểm toán độc lập đối với Báo cáo tài chính được tiếp cận theo nhiều khía cạnh khác nhau. Trên quan điểm lợi ích của người sử dụng thông tin, các nhà nghiên cứu như Campbell (1985), Shaw (1980) cho rằng kế toán là phương thức mang lại sự tin cậy cho Báo cáo tài chính. Luận điểm này dựa trên giả thiết là Báo cáo tài chính sẽ hữu ích hơn cho những nhóm người sử dụng khác nhau khi chúng được kiểm toán viên độc lập kiểm tra và báo cáo và sự hữu ích tăng thêm này xuất phát từ việc hạn chế bớt rủi ro do việc Báo cáo tài chính chứa đựng những gian lận trọng yếu. Trong khi đó, đứng từ phía người quản lý, Chow và Rice (1982) cho rằng người quản lý tự nguyện chấp nhận kiểm toán vì nhờ đó, làm tăng độ tin cậy của thông tin trên Báo cáo tài chính, cải thiện lợi thế so với trường hợp không kiểm toán. Hơn nữa những lợi ích mang lại theo Campbell sẽ vượt quá chi phí cho cuộc kiểm toán [1, trang 12]. Việc báo cáo (tài chính) là một trách nhiệm phải thực hiện của người quản lý đối với chủ doanh nghiệp và cũng là trách nhiệm của chủ doanh nghiệp đối với các bên liên quan trong xã hội. Do vậy, lợi ích của xã hội sẽ được đảm bảo hợp lý từ việc kiểm toán được xem như là một phần của hệ thống kiểm soát của xã hội đối với thông tin trên Báo cáo tài chính. Nói tóm lại, kiểm toán độc lập là một phương thức đảm bảo ở mức độ hợp lý nhất định độ tin cậy của thông tin (…) để bảo vệ quyền lợi chung của xã hội và các bên liên quan trong nền kinh tế thị trường mà thông tin là cơ sở cho việc ra quyết định kinh tế.

Có thể nói, tính hữu ích của Báo cáo tài chính, đo lường, ghi nhận và trình bày các yếu tố của Báo cáo tài chính tính hữu ích có thể bị suy giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau. Do vậy, có thể nâng cao tính hữu ích của Báo cáo tài chính như ngăn chặn sự suy giảm tính hữu ích và hoàn thiện cách thức mang lại lợi ích cho người sử dụng thông tin trên nền tảng kế toán hiện có.
dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại bắc ninh Theo Tạp chí kế toán
[Read More...]


0 Hướng dẫn thanh toán BHYT cho người đóng liên tục 5 năm



Bộ Y tế đã ban hành Công văn 5544/BYT-BH hướng dẫn thanh toán trực tiếp chi phí cùng chi trả vượt quá 06 tháng lương cơ sở đối với người tham gia BHYT 05 năm liên tục trở lên. Theo đó:

dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại bắc ninh
– Trường hợp cơ sở y tế đã xác định được số lũy kế chi phí cùng chi trả trong khám, chữa bệnh BHYT trong năm có số tiền cùng chi trả lớn hơn 06 tháng lương cơ sở (lớn hơn 7.260.000 đồng) thì:
+ Không thu thêm chi phí cùng chi trả;

+ Cung cấp hóa đơn thu mức cùng chi trả đủ 06 tháng lương cơ sở cho người bệnh để BHXH có căn cứ cấp giấy không phải cùng chi trả trong năm tài chính.

Học kế toán thực tế Tại nguyễn chính thanh đống đa
– Trường hợp cơ sở y tế không xác định được số lũy kế chi phí cùng chi trả trong khám, chữa bệnh BHYT trong năm tại thời điểm có mức chi phí lớn hơn 06 tháng lương cơ sở (tính từ khi tham gia BHYT đủ 05 năm liên tiếp) thì :
+ Người bệnh tự thanh toán phần chi phí cùng chi trả; và

+ Mang hóa đơn đến BHXH để được thanh toán trực tiếp số tiền đã phải trả lớn hơn 06 tháng lương cơ sở.

Công văn 5544/BYT-BH được ban hành vào ngày 19/7/2016.
  dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại thanh xuân
[Read More...]


0 Giảm hơn 200 giờ tính thuế và khai thuế cho doanh nghiệp từ 1/9



Kể từ ngày 1/9, doanh nghiệp sẽ giảm được 201,5 giờ tính và khai thuế do có sự thay đổi trong thủ tục hành chính: Bãi bỏ hàng loạt thủ tục thuế về khai và tính thuế VAT, điều kiện hóa đơn bán hàng, cung ứng dịch vụ, bảng kê hóa đơn hàng hóa dịch vụ mua vào,…


Bộ Tài Chính vừa cho biết: Thực hiện chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý và cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, Hải quan, Bộ tài chính đã ban hành thông tư số 119, cắt bỏ một loạt thủ tục hành chính thuế. Trong đó, bỏ quy định khai và tính thuế VAT đối với hàng hóa, bán sản phẩm tiếp tục quá trình sản xuất kinh doanh.

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận long biên
Từ 1/9 doanh nghiệp sẽ giảm được 201,5 giờ tính và khai thuế

Từ 1/9 doanh nghiệp sẽ giảm được 201,5 giờ tính và khai thuế

Bỏ quy định khai và tính thuế VAT đối với hàng hóa xuất khẩu bị trả lại phải nhập khẩu trở lại.

Bỏ mức 1 tỷ đồng về điều kiện tài sản, máy móc, thiết bị đầu tư, mua sắm đối với doanh nghiệp mới thành lập để đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp khấu trừ thuế.

Bỏ điều kiện hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trong điều kiện hồ sơ, thủ tục hoàn thuế VAT đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu (Cơ sở kinh doanh sử dụng ngay hóa đơn thương mại trong hồ sơ hải quan).

Trung tâm dạy kế toán thực hành Tại thanh xuân
Bỏ quy định phải lập hóa đơn, kê khai, tính nộp thuế đối với xuất máy móc, thiết bị, vật tư, hàng hóa dưới hình thức cho vay, cho mượn hoặc hoàn trả nếu có hợp đồng và chứng từ liên quan đến giao dịch phù hợp.

Bỏ 12 chỉ tiêu tại các Bảng kê hóa đơn hàng hóa dịch vụ mua vào; bán ra; v.v…

Thông tư có hiệu lực thi hành từ 01/9/2014, thực hiện những nội dung này doanh nghiệp sẽ giảm được 201,5 giờ tính thuế, khai thuế.

Cùng với đó, Bộ Tài chính đã có văn bản số 11802/BTC-TCHQ ngày 22/8/2014 bỏ quy định một ủy nhiệm thu ngân sách cho một tờ khai hải quan bằng một ủy nhiệm thu cho tất cả các tờ khai trong cùng một lô hàng hóa xuất nhập khẩu; quy định này giảm trên 1,5 triệu chứng từ/năm phải kê khai để nộp thuế.
  dịch vụ kế toán thuế trọn gói giá rẻ tại hà đông
[Read More...]


0 Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc từ ngày 1/1/2018



Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội (BHXH) năm 2014 có hiệu lực thi hành từ 1/1/2016, từ 1/1/2018 sẽ có thêm một số đối tượng lao động được đóng BHXH bắt buộc.

Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc từ ngày 1/1/2018
Trung tâm dạy kế toán thực tế Tại minh khai hai bà trưng
Cụ thể, từ ngày 1/1/2018, người làm việc theo Hợp đồng lao động (HĐLĐ), Hợp đồng làm việc (HĐLV) có thời hạn từ đủ 1 tháng đến dưới 3 tháng thuộc đối tượng tham gia BHXH, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp (TNLĐ-BNN).

Cũng từ 1/1/2018, người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia BHXH bắt buộc.

Đối với người lao động giao kết từ 2 HĐLĐ trở lên với nhiều người sử dụng lao động thì: Đóng BHXH, BHTN theo HĐLĐ giao kết đầu tiên; đóng BHYT theo HĐLĐ có mức tiền lương cao nhất; đóng bảo hiểm TNLĐ-BNN theo từng HĐLĐ.

Đối tượng tham gia BHXH bắt buộc từ ngày 1/1/2018

dich vu ke toan thue tron goi gia re tai hai phong
Cụ thể, từ ngày 1/1/2018, người làm việc theo Hợp đồng lao động (HĐLĐ), Hợp đồng làm việc (HĐLV) có thời hạn từ đủ 1 tháng đến dưới 3 tháng thuộc đối tượng tham gia BHXH, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp (TNLĐ-BNN).

Về mức đóng: Từ ngày 1/6/2017, tỷ lệ đóng vào Quỹ bảo hiểm TNLĐ-BNN bằng 0,5% trên quỹ tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của người lao động. Như vậy, tổng cộng tỷ lệ mà đơn vị sử dụng lao động đóng vào Quỹ BHXH (ốm đau, thai sản, TNLĐ-BNN, hưu trí, tử tuất) là 17,5% (giảm 0,5% so với trước đây).

Về tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, BHYT, BHTN: Theo quy định của Luật, đối với chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương làm căn cứ đóng BHXH, BHYT, BHTN là mức lương, phụ cấp lương theo quy định của pháp luật về lao động; từ ngày 1/1/2018 là mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định của pháp luật về lao động ghi trong HĐLĐ.

Mức lương, phụ cấp lương các khoản bổ sung khác ghi trong HĐLĐ theo quy định tại Khoản 1, Điểm a Khoản 2, Điểm a Khoản 3 Điều 14 Thông tư số 47/2015/TT-BLĐTBXH ngày 16/11/2015 của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều về HĐLĐ, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động.
dich vu ke toan thue tron goi tai huyen phu xuyen
[Read More...]


0 Hoá đơn điện tử sẽ dần thay thế hoá đơn giấy



Ngày 29/8, Công ty Điện toán và truyền số liệu (VDC) đã tổ chức hội thảo chuyên đề về HĐĐT (HĐĐT), nhằm giới thiệu dịch vụ mới của VDC, đồng thời cập nhật và giải đáp những vướng mắc liên quan đến HĐĐT của DN.


Phát biểu tại hội thảo, Vụ trưởng vụ DN lớn Tổng cục Thuế Nguyễn Văn Phụng cho biết: để đẩy mạnh cải cách, giảm thiểu thủ tục hành chính, Nhà nước đã cho phép DN sử dụng 3 hình thức hóa đơn đó là: hóa đơn đặt in, tự tin và HĐĐT. Tuy nhiên về lâu dài, Tổng cục Thuế sẽ phát triển HĐĐT thay dần hóa đơn giấy, bởi việc triển khai HĐĐT chẳng những sẽ giúp DN tiết kiệm được thời gian và chi phí trong việc tạo, lập hóa đơn; giúp lưu trữ hóa đơn một cách toàn vẹn, giảm thiểu khả năng mất mát mà còn hỗ trợ cơ quan quản lý dễ dàng kiểm tra, đối chiếu, xác minh dữ liệu một cách nhanh chóng, chính xác.
Trung tâm dạy kế toán thực hành Tại hà nam
 Nắm bắt chủ trương của nhà nước về phát triển HĐĐT, ngay từ năm 2011, VDC đã sớm triển khai nghiên cứu và trở thành nhà cung cấp dịch vụ tiên phong trong lĩnh vực còn rất mới mẻ ở Việt Nam. Ra mắt dịch vụ HĐĐT VNPT-invoice từ tháng 10/2013, đến nay sau 10 tháng triển khai VDC đã có nhiều khách hàng lớn như: Trung tâm tín dụng ngân hàng - Ngân hàng Nhà nước, Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội, Vinaphone, VNPT Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng… Nhận định về xu hướng của sản phẩm này, Phó giám đốc VDC - ông Nguyễn Hồng Hải nhận định: HĐĐT VNPT-invoice bảo đảm tính chính xác, chặt chẽ về chuyên môn nghiệp vụ, bảo mật tuyệt đối, đặc biệt hệ thống luôn hoạt động 24/24h và có hệ thống sao lưu dữ liệu tại cả 3 miền, do đó giảm thiểu rủi ro cho DN. Cùng với những sản phẩm như dịch vụ chứng thực điện tử VNPT-CA, cổng khai thuế VNPT-Tax, HĐĐT VNPT-invoice còn góp phần đưa ứng dụng công nghệ vào quản lý giảm thiểu thủ tục hành chính cho DN.
dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận hoàn kiếm
Tại hội thảo, giải đáp những câu hỏi của nhiều DN muốn tìm hiểu rõ về điều kiện, thời gian, cũng như chi phí để triển khai HĐĐT, đại diện VDC cho biết, thời gian triển khai HĐĐT phụ thuộc nhiều vào quy trình quản trị và số lượng hóa đơn xuất ra hàng tháng của DN. Đơn cử như VNPT TP HCM do đầu tư riêng một hệ thống để quản lý, xuất HĐĐT nên toàn bộ khối lượng công việc phải triển khai bao gồm: xây dựng hệ thống, sửa đổi quy trình quản lý, tập huấn cho trên 400 cán bộ… cũng chỉ mất khoảng 6 tháng. Đối với các DN nhỏ và vừa có thể thuê đường truyền để tạo lập và truyền, nhận HĐĐT, như vậy sẽ giảm đáng kể chi phí đầu tư ban đầu và thời gian triển khai sẽ rất nhanh. Lớp học kế toán tổng hợp thực hành tại Hải Phòng
[Read More...]


0 Cách tính tiền phạt chậm nộp thuế GTGT, TNDN năm 2017



Thời gian gần đây Kế Toán Hà Nội nhận được khá nhiều câu hỏi xung quanh vấn đề mức nộp phạt khi chậm nộp thuế Giá trị gia tăng và thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN). Trong nội dung dưới đây chúng tôi sẽ hướng dẫn chi tiết các học viên cũng như các độc giả của ketoanmac.edu.vn về Mức phạt chậm nộp tiền thuế GTGT, TNDN và cách tính tiền phạt mới nhất năm 2017

Việc xử phạt vi phạm nộp chậm tiền thuế được thực hiện theo quy định tại Tại Khoản 3 Điều 3 Luật Thuế Giá trị gia tăng số 106/2016/QH13 quy định:
“Người nộp thuế chậm nộp tiền thuế so với thời hạn quy định, thời hạn gia hạn nộp thuế, thời hạn ghi trong thông báo của cơ quan quản lý thuế, thời hạn trong quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế thì phải nộp đủ tiền thuế và tiền chậm nộp theo mức bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp.

Đối với các khoản nợ tiền thuế phát sinh trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 mà người nộp thuế chưa nộp vào ngân sách nhà nước (NSNN), kể cả khoản tiền nợ thuế được truy thu qua kết quả thanh tra, kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền thì được chuyển sang áp dụng mức tính tiền chậm nộp theo quy định tại Khoản này từ ngày 01 thảng 7 năm 2016. ”

Theo đó, đối với khoản nợ tiền thuế phát sinh trước ngày 01/7/2016 nhưng sau ngày 01/7/2016 vẫn chưa nộp thì từ ngày 01/7/2016 chuyển sang áp dụng mức tính tiền chậm nộp 0,03%/ngày.

Ví dụ: Công ty Trách nhiệm hữu hạn X có số thuế Giá trị gia tăng phát sinh của quý I/2016 là 150 triệu đồng, thời hạn cuối cùng phải nộp là 30/4/2016, nhưng đến ngày 30/7/2016 Công ty mới thực hiện nộp khoản thuế này. Như vây, Công ty sẽ phải nộp tiền chậm nộp và phải tính theo tính theo hai mức: Từ ngày 01/5/2016 đến hết ngày 30/6/2016 áp dụng mức tính chậm nộp là 0,05%/ngày. Từ ngày 01/7/2016 đến ngày 29/7/2016 áp dụng mức tính tiền chậm nộp 0,03%/ngày.
Trường hợp người nộp thuế (NNT) khai thiếu tiền thuế của kỳ thuế phát sinh trước ngày 01/7/2016 nhưng sau ngày 01/7/2016, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện qua thanh tra, kiểm tra hoặc NNT tự phát hiện thì áp dụng tiền chậm nộp theo mức 0,05%/ngày (hoặc mức phù hợp quy định của văn bản pháp luật từng thời kỳ) từ ngày phải nộp theo quy định của pháp luật đến hết ngày 30/6/2016 và theo mức 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế khai thiếu từ ngày 01/7/2016 đến ngày NNT nộp vào NSNN.

Ví dụ: Công ty cổ phần X đã khai tờ khai quyết toán thuế TNDN năm 2015 và đến hết ngày 31/3/2016 đã nộp hết số thuế phát sinh phải nộp trên tờ khai. Thế nhưng, tới ngày 25/7/2016 Công ty phát hiện khai sai và phải làm tờ khai bổ sung, số thuế TNDN phải nộp thêm là 250 triệu đồng. Số tiền thuế phải nộp bổ sung (250 triệu đồng) cũng sẽ áp dụng mức tính tiền chậm nộp theo hai mức: Từ ngày 01/4/2016 đến ngày 30/6/2016 áp dụng mức tính chậm nộp là 0,05%/ngày. Từ ngày 01/7/2016 đến ngày 25/7/2016 áp dụng mức tính tiền chậm nộp 0,03%/ngày.
(Theo hướng dẫn tại công văn Số: 10315/BTC-TCT V/v thực hiện Luật số 106/2016/QH13 Hà Nội, ngày 25 tháng 7 năm 2016)

Cách tính tiền phạt chậm nộp thuế theo Thông tư 130/2016/TT-BTC có hiệu lực ngày 01/7/2016
a) Đối với khoản tiền thuế nợ phát sinh từ ngày 01/7/2016 thì tiền chậm nộp được tính theo mức 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp.
b) Đối với khoản tiền thuế nợ phát sinh trước ngày 01/7/2016 nhưng sau ngày 01/7/2016 vẫn chưa nộp thì tính như sau: trước ngày 01/01/2015 tính phạt chậm nộp, tiền chậm nộp theo quy định tại Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13, từ ngày 01/01/2015 tính tiền chậm nộp theo quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế số 71/2014/QH13, từ ngày 01/7/2016 tính tiền chậm nộp theo mức 0,03%/ngày.
Ví dụ: NNT B nợ 100 triệu đồng tiền thuế Giá trị gia tăng thuộc tờ khai thuế Giá trị gia tăng tháng 8/2014 (tờ khai đã nộp đúng hạn cho cơ quan thuế), thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày 22/9/2014 (do ngày 20/9/2014 và ngày 21/9/2014 là ngày nghỉ). Ngày 20/8/2016, NNT nộp số tiền thuế này vào NSNN, số ngày chậm nộp được tính từ ngày 23/9/2014 đến ngày 20/8/2016, số tiền chậm nộp phải nộp là 34,08 triệu đồng. Cụ thể như sau:
Trước ngày 01/01/2015 tiền chậm nộp được tính như sau:
Từ ngày 23/9/2014 đến ngày 21/12/2014, số ngày chậm nộp là 90 ngày: 100 triệu đồng x 0,05% x 90 ngày = 4,5 triệu đồng.
Từ ngày 22/12/2014 đến ngày 31/12/2014, số ngày chậm nộp là 10 ngày: 100 triệu đồng x 0,07% x 10 ngày = 0,7 triệu đồng.

Từ ngày 01/01/2015 đến ngày 30/6/2016, số ngày chậm nộp là 547 ngày: 100 triệu đồng x 0,05% x 547 ngày = 27,35 triệu đồng.
Từ ngày 01/7/2016 đến ngày 20/8/2016, số ngày chậm nộp là 51 ngày: 100 triệu đồng x 0,03% x 51 ngày = 1,53 triệu đồng.
c) Số ngày chậm nộp tiền thuế (bao gồm cả ngày lễ, ngày nghỉ theo quy định của pháp luật) được tính từ ngày liền kề sau ngày cuối cùng của thời hạn nộp thuế, thời hạn gia hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế, thời hạn nộp thuế ghi trong thông báo hoặc quyết định xử lý vi phạm pháp luật về thuế của cơ quan thuế (CQT) hoặc quyết định xử lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tới ngày NNT nộp số tiền thuế vào NSNN.
Ví dụ: NNT C nợ thuế Giá trị gia tăng 50 triệu đồng, có hạn nộp là ngày 20/8/2013. Ngày 26/8/2013, NNT nộp số tiền trên vào NSNN. Số ngày chậm nộp là 06 ngày, được tính từ ngày 21/8/2013 đến ngày 26/8/2013.
Ví dụ: NNT D được CQT quyết định gia hạn nộp thuế đối với khoản thuế Giá trị gia tăng 50 triệu đồng, có hạn nộp là ngày 20/5/2014, thời gian gia hạn từ này 21/5/2014 đến ngày 20/11/2014. Ngày 21/11/2014, NNT nộp 50 triệu đồng vào NSNN. Số ngày chậm nộp là 01 ngày (ngày 21/11/2014).
Ví dụ: CQT thực hiện thanh tra thuế đối với NNT E. Ngày 15/4/2014, CQT ban hành quyết định xử lý vi phạm pháp luật về thuế với số tiền là 500 triệu đồng, thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày 14/5/2014. Ngày 30/5/2014, NNT nộp 500 triệu đồng vào NSNN. Số ngày chậm nộp là 16 ngày, được tính từ ngày 15/5/2014 đến ngày 30/5/2014.
 d) Trường hợp CQT thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên để thu hồi nợ thuế thì NNT bị tính tiền chậm nộp từ ngày tiếp sau ngày cuối cùng của thời hạn nộp thuế; thời hạn gia hạn nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế; thời hạn nộp thuế ghi trong thông báo hoặc quyết định xử lý của CQT hoặc cơ quan có thẩm quyền tới ngày CQT lập biên bản kê biên tài sản.
Trường hợp đã chuyển giao quyền sở hữu tài sản bán đấu giá cho người mua theo quy định của pháp luật mà cơ quan chức năng có thẩm quyền bán đấu giá tài sản không nộp tiền thuế vào NSNN thì cơ quan chức năng có thẩm quyền bán đấu giá tài sản phải nộp tiền chậm nộp kể từ ngày tiếp theo ngày chuyển giao quyền sở hữu tài sản đến ngày nộp thuế vào NSNN.

Không tính chậm nộp trong thời gian thực hiện các thủ tục đấu giá theo quy định của pháp luật.
e) Trường hợp NNT khai thiếu tiền thuế của kỳ thuế phát sinh trước ngày 01/7/2016 nhưng sau ngày 01/7/2016, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện qua thanh tra, kiểm tra hoặc NNT tự phát hiện thì áp dụng tiền chậm nộp theo mức 0,05%/ngày (hoặc mức phù hợp quy định của văn bản pháp luật từng thời kỳ) từ ngày phải nộp theo quy định của pháp luật tới hết ngày 30/6/2016 và theo mức 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế khai thiếu từ ngày 01/7/2016 đến ngày NNT nộp vào NSNN.”

Trước ngày 1/7/2016. Thì cách xác định tiền chậm nộp tiền thuế được tính theo thông tư 26/2015/TT-BTC như sau:
1.  Đối với khoản tiền thuế nợ phát sinh từ ngày 01/01/2015 thì tiền chậm nộp được tính theo mức 0,05%số tiền thuế chậm nộp tính trên mỗi ngày chậm nộp (Bỏ quy định mức phạt chậm nộp 0.07% đối với việc chậm nộp tiền từ ngày 91 trở đi.)

2. Đối với khoản tiền thuế nợ phát sinh trước ngày 01/01/2015 nhưng sau ngày 01/01/2015 vẫn chưa nộp thì tính như sau: trước ngày 01/01/2015 tính phạt chậm nộp, tiền chậm nộp theo quy định tại Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13, từ ngày 01/01/2015 tính tiền chậm nộp theo quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế số 71/2014/QH13.

Ví dụ: NNT B nợ 100 triệu đồng tiền thuế Giá trị gia tăng thuộc tờ khai thuế Giá trị gia tăng tháng 8/2014, thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày 22/9/2014 (do ngày 20/9/2014 và ngày 21/9/2014 là ngày nghỉ). Ngày 20/01/2015 NNT nộp số tiền thuế này vào NSNN, số ngày chậm nộp được tính từ ngày 23/9/2014 đến ngày 20/01/2015, số tiền chậm nộp phải nộp là 6,2 triệu đồng. Cụ thể như sau:
– Trước ngày 01/01/2015 tiền chậm nộp được tính như sau:
+ Từ ngày 23/9/2014 đến ngày 21/12/2014, số ngày chậm nộp là 90 ngày:
100 triệu x 0,05% x 90 ngày = 4,5 triệu đồng.
+ Từ ngày 22/12/2014 đến ngày 31/12/2014, số ngày chậm nộp là 10 ngày:
100 triệu x 0,07% x 10 ngày = 0,7 triệu đồng.
– Từ ngày 01/01/2015 đến ngày 20/01/2015, số ngày chậm nộp là 20 ngày:
100 triệu x 0,05% x 20 ngày = 1 triệu đồng.”
Trung tâm dạy kế toán tổng hợp Tại nam định (Cách tính này chỉ áp dụng cho trường hợp NỢ THUẾ – Tức là năm 2014 bạn đã kê khai thuế ra số tiền phải nộp nhưng bạn chưa đi nộp)
3. Trường hợp NNT khai thiếu tiền thuế của kỳ thuế phát sinh trước ngày 01/01/2015 nhưng sau ngày 01/01/2015, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện qua thanh tra, kiểm tra hoặc NNT tự phát hiện thì áp dụng tiền chậm nộp theo mức 0,05%/ngày tính trên số tiền thuế khai thiếu từ ngày phải nộp theo quy định của pháp luật tới ngày NNT nộp tiền thuế khai thiếu vào NSNN.”

Các trường hợp không tính tiền chậm nộp:
1. NNT cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thanh toán bằng nguồn vốn NSNN nhưng chưa được đơn vị sử dụng vốn NSNN thanh toán (sau đây gọi chung là NNT) nên không nộp thuế kịp thời dẫn tới nợ thuế thì không phải nộp tiền chậm nộp tiền thuế.

Trường hợp NNT cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thanh toán một phần từ nguồn vốn NSNN, phần còn lại từ nguồn ngoài ngân sách, nhưng chưa được đơn vị sử dụng vốn NSNN thanh toán nên không nộp thuế kịp thời dẫn tới nợ thuế thì NNT không phải nộp tiền chậm nộp đối với số tiền thuế tương ứng với phần được thanh toán từ ngân sách nhà nước.

Đơn vị sử dụng vốn NSNN là đơn vị mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước được giao dự toán chi NSNN theo quy định của Luật ngân sách nhà nước.

Ví dụ: NNT A cung cấp hàng hóa X cho đơn vị B (đơn vị sử dụng vốn NSNN) giá trị hàng hóa X là 100 triệu đồng, trong đó 40 triệu được thanh toán từ NSNN, 60 triệu được thanh toán từ nguồn ngoài NSNN. NNT A chưa được đơn vị B thanh toán 100 triệu đồng. NNT A nợ thuế là 70 triệu đồng, NNT A thuộc trường hợp không phải nộp tiền chậm nộp đối với số thuế là 40 triệu đồng.

2. Phạm vi số tiền thuế và thời gian không tính tiền chậm nộp tiền thuế đối với trường hợp NNT cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thanh toán bằng nguồn vốn NSNN nhưng chưa được đơn vị sử dụng vốn NSNN thanh toán

a) Không tính tiền chậm nộp đối với số tiền thuế còn nợ, số tiền thuế nợ này không vượt quá số tiền NSNN chưa thanh toán cho NNT.

Trường hợp NNT nợ thuế của nhiều kỳ kê khai thuế thì tổng số thuế nợ của các kỳ kê khai không vượt quá số tiền NSNN chưa thanh toán.

b) Thời gian không tính chậm nộp tiền thuế được tính từ ngày NNT phải nộp thuế tới ngày đơn vị sử dụng vốn NSNN thanh toán cho NNT và không vượt quá thời gian NSNN chưa thanh toán cho NNT.

3. Trình tự, thủ tục không tính tiền chậm nộp

a) NNT thuộc trường hợp không phải nộp tiền chậm nộp theo quy định tại khoản 1 Điều này cung cấp cho CQT quản lý trực tiếp văn bản xác nhận của đơn vị sử dụng vốn NSNN về việc NNT chưa được thanh toán theo mẫu số 01/TCN ban hành kèm theo Thông tư này.

b) CQT ban hành quyết định về việc kiểm tra tại trụ sở của NNT, thời gian kiểm tra tối đa là 03 ngày làm việc. Sau khi kiểm tra, CQT xác định:

Nếu NNT thuộc trường hợp không phải nộp tiền chậm nộp thì CQT ban hành thông báo về việc NNT không phải nộp tiền chậm nộp thuế.
Nếu NNT thuộc trường hợp phải nộp tiền chậm nộp thì CQT ban hành thông báo về việc NNT phải nộp tiền chậm nộp thuế (thông báo tiền thuế nợ, tiền phạt và tiền chậm nộp) và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế theo quy định của pháp luật.
Ví dụ:

Ngày 20/02/2015, NNT A nộp tờ khai thuế Giá trị gia tăng, số thuế phải nộp là 30 triệu đồng. Tại thời điểm này, NSNNchưa thanh toán cho NNT A số tiền là 100 triệu đồng. Sau khi kiểm tra, CQT xác định NNT A thuộc trường hợp không phải nộp tiền chậm nộp đối với số thuế Giá trị gia tăng 30 triệu đồng tới khi được ngân sách nhà nước thanh toán.

Đến ngày 31/3/2015, NNT A nộp quyết toán thuế TNDN, số tiền thuế TNDN phải nộp là 80 triệu đồng. Tại thời điểm này, NSNN vẫn chưa thanh toán cho NNT A số tiền 100 triệu đồng. NNT A tiếp tục thuộc trường hợp không phải nộp tiền chậm nộp đối với số thuế TNDN 70 triệu đồng tới khi được NSNN thanh toán. Số tiền thuế còn lại là 10 triệu đồng, nếu NNT A chưa nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định thì phải tính tiền chậm nộp.

c) Sau khi được NSNN thanh toán, NNT thực hiện nộp tiền thuế vào NSNN và thông báo cho CQT theo mẫu số 02/TCN ban hành kèm theo Thông tư này để CQT có cơ sở tính lại các khoản tiền thuế nợ, tiền chậm nộp và xác định chính xác số ngày không phải nộp tiền chậm nộp của NNT.

Xác định số tiền chậm nộp được miễn
a) Trường hợp NNT gặp thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ, dịch bệnh: số tiền chậm nộp được miễn tính trên số tiền thuế còn nợ tại thời điểm xảy ra thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ, dịch bệnh và số tiền chậm nộp được miễn này không vượt quá giá trị tài sản, hàng hoá bị thiệt hại.

b) Trường hợp NNT bị bệnh hiểm nghèo: số tiền chậm nộp được miễn tính trên số tiền thuế còn nợ tại thời điểm mắc bệnh hiểm nghèo và số tiền chậm nộp được miễn này không vượt quá chi phí khám, chữa bệnh.”

c) Trường hợp NNT gặp bất khả kháng khác: số tiền chậm nộp được miễn tính trên số tiền thuế còn nợ tại thời điểm gây nên tình trạng bất khả kháng khác và số tiền chậm nộp được miễn này không vượt quá giá trị tài sản, hàng hoá bị thiệt hại.”

b) Sửa đổi, bổ sung điểm b.1, b.2 khoản 3 như sau:

“b.1) Trường hợp do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ, dịch bệnh, phải có:

Biên bản xác định mức độ, giá trị thiệt hại về tài sản của cơ quan có thẩm quyền như Hội đồng định giá do Sở Tài chính thành lập, hoặc các công ty định giá chuyên nghiệp cung cấp dịch vụ định giá theo hợp đồng, hoặc Trung tâm định giá của Sở Tài chính;
Văn bản xác nhận về việc NNT có thiệt hại tại nơi xảy ra thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ và thời điểm xảy ra thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ, dịch bệnh của một trong các cơ quan, tổ chức sau: công an cấp xã, phường hoặc UBND cấp xã, phường, Ban quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu kinh tế nơi xảy ra thiên tai, hoả hoạn, tai nạn bất ngờ hoặc tổ chức cứu hộ, cứu nạn;
Hồ sơ bồi thường thiệt hại được cơ quan bảo hiểm chấp nhận bồi thường (nếu có);
Hồ sơ quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân phải bồi thường (nếu có).
b.2) Trường hợp cá nhân bị bệnh hiểm nghèo thì phải có xác nhận đã khám chữa bệnh trên sổ y bạ, thời điểm xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh được thành lập theo quy định của pháp luật; chi phí khám, chữa bệnh có đầy đủ chứng từ theo quy định; hồ sơ thanh toán chi phí khám, chữa bệnh của cơ quan bảo hiểm (nếu có).”

c) Bổ sung Khoản 5 vào Điều 35 như sau:

“5. Trình tự giải quyết hồ sơ miễn tiền chậm nộp

a) Trong thời hạn 60 (sáu mươi) ngày kể từ ngày xảy ra gặp thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn bất ngờ, dịch bệnh, bệnh hiểm nghèo hoặc trường hợp bất khả kháng khác NNT phải lập hồ sơ đề nghị miễn tiền chậm nộp gửi tới CQT quản lý trực tiếp.

b) Trường hợp hồ sơ đề nghị miễn tiền chậm nộp chưa đầy đủ theo quy định, trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ, CQT phải thông báo bằng văn bản cho NNT đề nghị giải trình hoặc bổ sung hồ sơ. NNT phải giải trình hoặc bổ sung hồ sơ trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc kể từ ngày CQT ban hành văn bản giải trình hoặc bổ sung hồ sơ.

Nếu NNT không hoàn chỉnh hồ sơ theo yêu cầu của CQT thì NNT không thuộc trường hợp được miễn tiền chậm nộp.

c) Trường hợp hồ sơ đề nghị miễn tiền chậm nộp đầy đủ, trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, CQT quản lý trực tiếp ban hành văn bản gửi NNT:

c.1) Văn bản không chấp thuận đề nghị của NNT nếu NNT không đủ điều kiện được miễn tiền chậm nộp.

c.2) Quyết định về việc miễn tiền chậm nộp nếu NNT thuộc trường hợp được miễn tiền chậm nộp.”

dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại long biên Trước đây việc tính số tiền thuế nộp chậm được thực hiện theo điều 34 của TT 156/2013/TT-BTC có hướng dẫn về cách tính tiền phạt đối với việc chậm nộp tiền thuế như sau:
+ Trong vòng 90 ngày đầu tiên thì nhân với 0.05%.

Công thức tính: Số tiền phạt chậm nộp = số tiền thuế nộp chậm X 0.05% X số ngày nộp chậm
+ Từ ngày 91 trở đi nhân với 0.07%

Công thức tính: Số tiền phạt chậm nộp = số tiền thuế nộp chậm X 0.07% X số ngày nộp chậm
Ví dụ: Kỳ tính thuế Giá trị gia tăng tháng 7 năm 2013 Công ty kế toán MAC có phát sinh số tiền phải nộp là 50.000.000 Nhưng tới ngày 11/12/2013 Công ty kế toán MAC mới nộp tiền thì số tiền thuế nộp chậm được xác định như sau:

– Hạn nộp tiền thuế Giá trị gia tăng của tháng 7/2013 là ngày 20/8/2013 vậy là thời gian nộp chậm được tính bắt đầu từ ngày 21/8/2013 đến ngày 11/12/2013.

– Tổng thời gian nộp chậm là: 113 ngày

=> Số tiền phạt chậm nộp = ( 50.000.000 X 0.05% X 90) + ( 50.000.000 X 0.07% X 23) = 3.055.000

Vậy là ngày 11/12/2013 Công ty kế toán MAC sẽ phải nộp:

+ Tiền thuế chậm nộp: 50.000.000
+ Tiền phạt nộp chậm: 3.055.000
Tổng là: 53.005.000

Lưu ý: Cách tính tiền phạt chậm nộp tiền thuế trên áp dụng cho tất cả các loại thuế khi DN chậm nộp so với thời hạn quy định.

Số ngày chậm nộp bao gồm cả nghỉ, lễ tết
Nhưng kế toán cần lưu ý khi tính tiền phạt chậm nộp là: số tiền  thuế nợ phát sinh trước ngày 01/7/2013 nhưng sau ngày 01/7/2013 vẫn chưa nộp thì tính như thế nào?

Theo Công văn số 4216/TCT- QLN ngày 05/12/2013 của Tổng cục thuế ban hành hướng dẫn về cách tính tiền chậm nộp thuế như sau: trước ngày 01/7/2013 tính phạt chậm nộp theo quy định tại Luật Quản lý thuế, từ ngày 01/7/2013 tính tiền chậm nộp theo quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế.
Tức là: Trước ngày 1/7/2013 chậm nộp bao nhiêu ngày thì cũng chỉ nhân với 0.05%. Còn Từ ngày 1/7/2013 trở đi thì 90 ngày đầu ( tính từ ngày 1/7) nhân với 0.05%, số ngày còn lại nhân với 0.07%.Ví dụ: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Z nợ 100 triệu đồng tiền thuế TNDN thuộc tờ khai quyết toán thuế năm 2012, thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày 01/4/2013 (do ngày 31/3/2013 là ngày nghỉ). Ngày 04/10/21013 NNT nộp số tiền thuế này vào NSNN, số ngày chậm nộp được tính từ ngày 02/4/2013 đến ngày 04/10/2013.
Trước ngày 01/7/2013 tiền phạt chậm nộp được tính như sau: từ ngày 02/4/2013 đến ngày 30/6/2013, số ngày chậm nộp là 90 ngày: 100 triệu x 0,05% x 90 ngày = 4,5 triệu đồng.

Từ ngày 01/7/2013 trở đi tiền chậm nộp được tính như sau: số ngày chậm nộp là 96 ngày, cụ thể:

Từ ngày 01/7/2013 đến ngày 28/9/2013, số ngày chậm nộp là 90 ngày:

100 triệu x 0,05% x 90 ngày = 4,5 triệu đồng;
Từ ngày 29/9/2013 đến ngày 04/10/2013, số ngày chậm nộp là 06 ngày:

100 triệu đồng x 0,07% x 06 ngày = 0,42 triệu đồng.
Vậy tổng số tiền mà Công ty Trách nhiệm hữu hạn Z phải nộp vào ngày 01/10/2013 là :

Tiền thuế nộp chậm: 100 Triệu

Tiền phạt nộp chậm: 4,5 triệu + 4,5 triệu + 0,42 triệu = 9,42 triệu

Tổng tiền thuế phải nộp: 100 triệu + 9,42 triệu = 109,42 triệu Dịch vụ làm báo cáo tài chính tại quận thủ đức
[Read More...]


0 Một số Tình huống thuế thu nhập doanh nghiệp mới nhất



1. Các khoản chi lễ 8/3, 1/6, sinh nhật, sinh con, trung thu, tiền lì xì cho nhân viên... đều thuộc nhóm các khoản chi có tính chất phúc lợi.
- Doanh nghiệp tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN Nhưng các khoản này phải cộng vào các khoản chi có tính chất phúc lợi chi trực tiếp cho người lao động để xác định mức được trừ cụ thể.
Công văn 158/TCT - CS ngày 12/1/2017
Công văn số 5435/TCT-CS ngày 27/11/2017 của Tổng cục Thuế về chính sách thuế TNDN

2. Phí đào tạo ngoại ngữ cho nhân viên được hạch toán.
- Trường hợp Công ty có phát sinh chi phí thuê người nước ngoài dạy ngoại ngữ cho cán bộ, công nhân viên nhằm phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh thì được căn cứ vào hợp đồng dịch vụ và chứng từ thanh toán để tính vào chi phí hợp lý.
Công văn số 7546/CT-TTHT ngày 10/8/2017 của Cục Thuế TP. HCM

3. Chi phí mua sách cho nhân viên.
- Khoản chi mua sách chuyên ngành cho nhân viên tham khảo để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nếu đáp ứng các điều kiện nêu trên thì Khoản chi này được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.
Công văn số 2759/TCT-CS ngày 23/6/2017 của Tổng cục Thuế

4. Mất tiền đặt cọc do vi phạm hợp đồng được tính vào chi phí.
Trường hợp Công ty ký hợp đồng thuê mặt bằng, có đặt cọc một khoản tiền giữ chỗ nhưng về sau không thực hiện hợp đồng nên bị mất cọc thì số tiền cọc bị mất được tính vào chi phí hợp lý.
Hồ sơ hạch toán cần có: hợp đồng thuê mặt bằng (quy định rõ việc mất cọc nếu không thực hiện hợp đồng), chứng từ chi tiền.
Công văn số 3603/CT-TTHT ngày 24/4/2017 của Cục Thuế TP. HCM
Trường hợp Công ty thuê văn phòng nhưng do chấm dứt hợp đồng thuê trước thời hạn nên không được trả lại khoản tiền đặt cọc thuê nhà (khoảng 100 triệu đồng) thì các hồ sơ chứng từ như hợp đồng thuê (có quy định việc chấm dứt hợp đồng thuê trước thời hạn sẽ không được hoàn trả tiền đặt cọc) chứng từ chi... là căn cứ để Công ty tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN
Công văn số 6627/CT-TTHT ngày 13/7/2016 của Cục Thuế TP. HCM về chi phí được trừ

5. Tặng quà cho khách hàng nhân dịp lễ tết.
Trường hợp Công ty mua hàng hóa (rượu, trà, bánh, kẹo) để tặng khách hàng trong các dịp lễ, tết nhằm tri ân, duy trì, phát triển mối quan hệ với khách hàng thì khoản chi này được xem là liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Theo đó, nếu có đầy đủ hóa đơn, chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt (đối với hóa đơn trị giá từ 20 triệu đồng) thì được trừ khi tính thuế TNDN.
Cần lưu ý, khi biếu tặng hàng hóa cho khách hàng, Công ty vẫn phải lập hóa đơn, tính thuế GTGT như hàng bán ra. Nhưng không phải ghi nhận doanh thu để tính thuế TNDN.
Công văn số 12129/CT-TTHT ngày 9/12/2016 của Cục Thuế TP. HCM

Trung tâm dạy kế toán thực hành Tại hà đông 6. Khoản lãi phát sinh do chậm thanh toán.
Trường hợp Công ty có phát sinh chi phí tiền lãi do chậm thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng mua bán hàng hóa thì khoản chi tiền lãi này được hạch toán vào chi phí hợp lý.
Công văn số 464/CT-TTHT ngày 16/1/2017 của Cục Thuế TP. HCM

7. Tiền ăn trả vào lương, chi phí mua thêm thức ăn không được chấp nhận.
Trường hợp Công ty đã trả phụ cấp tiền ăn cho nhân viên vào lương, đồng thời có mua thêm thức ăn (mì gói, bánh ngọt, nước ngọt...) để dự trữ cho nhân viên thì chi phí mua thêm thức ăn dự trữ này không được chấp nhận.
Công văn số 6627/CT-TTHT ngày 13/7/2016 của Cục Thuế TP. HCM


8. Hóa đơn mua vào lập không đúng thời điểm.
Trường hợp Công ty có mua nguyên vật liệu nhưng bên bán lập hóa đơn trễ so với quy định (giao hàng tháng trước nhưng tháng sau mới lập hóa đơn), nếu các điều kiện khác vẫn đáp ứng thì Công ty vẫn được tính vào chi phí hợp lý, được kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
- Hồ sơ cần có:
+ Hợp đồng kinh tế
+ Biên bản giao nhận hàng hóa (tháng giao)
+ Hóa đơn
+ Chứng từ thanh toán đúng quy định.
Đối với bên bán sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi lập hóa đơn không đúng thời điểm
Công văn số 2731/TCT-CS ngày 20/6/2016 của Tổng cục Thuế
Được kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo công văn 2104/TCT-KK ngày 06/06/2014

9. Tiền hàng ứng trước không thu hồi được.
Trường hợp Công ty có phát sinh khoản tiền ứng trước không thu hồi được từ nhà cung cấp nước ngoài thì đây là khoản chi không tương ứng với doanh thu tính thuế nên không được tính vào chi phí được trừ
Công văn số 4789/CT-TTHT ngày 26/5/2016 của Cục Thuế TP. HCM

10. Thuê cá nhân vận chuyển bằng xe ba gác, xe máy (xe ôm), may gia công.
Trường hợp Công ty có thuê các cá nhân cung cấp dịch vụ vận chuyển bằng xe máy, may gia công với mức doanh thu dưới 100 triệu đồng/năm.
Căn cứ vào hợp đồng, chứng từ chi tiền, chứng từ khấu trừ thuế Công ty lập bảng kê 01/TNDN để hạch toán vào chi phí hợp lý
Nếu tổng mức chi trả thu nhập từ 02 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10%, trừ trường hợp cá nhân có lập cam kết thu nhập thấp thì miễn khấu trừ.
Công văn số 22684/CT-HTr ngày 22/4/2016 của Cục Thuế TP. Hà Nội
Công văn số 2019/CT-TTHT ngày 9/3/2015 của Cục Thuế TP. HCM

11. Tiền lì xì cho nhân viên.
Trường hợp Công ty có chi chi lì xì mừng năm mới thì được xem là một khoản chi "phúc lợi" được trừ khi tính thuế TNDN
Công văn số 2489/CT-TTHT ngày 24/3/2016 của Cục Thuế TP. HCM

12. Chi phí tàu xe hỗ trợ người lao động.
Trường hợp Chi nhánh có chi hỗ trợ chi phí đi lại ngày lễ, tết, thì được xem là một khoản chi "phúc lợi" được trừ khi tính thuế TNDN
Công văn số 2425/CT-TTHT ngày 23/3/2016 của Cục Thuế TP. HCM

dịch vụ kế toán thuế trọn gói tại quận ba đình 13. Thanh toán bằng thẻ tín dụng của cá nhân đối với các khoản có hóa đơn từ 20 triệu đồng trở lên.
Trường hợp Công ty ủy quyền cho cá nhân là người lao động của Công ty sử dụng thẻ tín dụng cá nhân để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ cho người bán, sau đó Công ty sẽ thanh toán cho cá nhân thông qua hình thức chuyển khoản ngân hàng từ tài khoản của Công ty đã đăng ký với cơ quan thuế vào tài khoản của cá nhân.

Nếu hình thức thanh toán này được:
+ Quy định cụ thể tại quy chế quản lý tài chính của Công ty
+ Hoặc Quyết định về việc ủy quyền của Công ty cho cá nhân
+ Đồng thời các khoản chi nêu trên có hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ mang tên và mã số thuế của Công ty; hồ sơ liên quan đến việc ủy quyền của doanh nghiệp cho cá nhân thanh toán với người bán và thanh toán lại với doanh nghiệp;
+ Có chứng từ chuyển tiền từ tài khoản thẻ tín dụng của cá nhân cho người bán.
+ Có chứng từ chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng của Công ty cho cá nhân

=> Thì hình thức thanh toán trên được coi là đáp ứng đủ điều kiện chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, làm căn cứ để kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào và được tính, vào chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp.

Công ty có trách nhiệm lập và theo dõi danh sách các tài khoản thẻ tín dụng cá nhân của người lao động được ủy quyền để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ theo hình thức nói trên và cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền khi cần.

Công văn số 5465/TCT-KK ngày 25/11/2016 của Tổng cục Thuế về việc khấu trừ thuế GTGT đối với khoản chi thanh toán bằng thẻ tín dụng cá nhân

14. Khoản chi phương tiện đi dự đám hiếu hỷ.
khoản chi phương tiện đi dự đám hiếu, hỷ của người lao động cũng được chấp nhận là khoản chi phúc lợi và được trừ khi tính thuế TNDN.
Công văn số 43626/CT-HTr ngày 3/7/2015 của Cục Thuế TP. Hà Nội

15. Chi phí tiền lương của những đối tượng phải tham gia BH bắt buộc nhưng không đóng.
Theo Công văn này, chi phí tiền lương chỉ cần có đầy đủ các chứng từ sau là được chấp nhận, không bắt buộc phải có chứng từ đóng BHXH:
1. Chứng từ chi lương;
2. Bảng lương;
3. Hợp đồng lao động;
4. Chứng từ nộp thuế TNCN.
Do vậy, trường hợp doanh nghiệp có vi phạm quy định về BHXH (không đóng BHXH chẳng hạn) thì chi phí tiền lương vẫn được chấp nhận
Công văn số 3884/TCT-CS ngày 18/11/2013 của Tổng cục Thuế về chính sách thuế TNDN

16. Về chi phí cải tạo, sửa chữa văn phòng.
Trường hợp doanh nghiệp phát sinh chi phí cải tạo, sửa chữa văn phòng (văn phòng đi thuê) được quy định rõ trong hợp đồng thuê là bên đi thuê có trách nhiệm cải tạo, sửa chữa trong thời gian thuê thì chi phí cải tạo, sửa chữa lại văn phòng này được hạch toán vào chi phí hoặc phân bổ dần vào chi phí nhưng thời gian tối đa không quá 03 năm.
Công văn số 38267/CT-TTHT ngày 7/6/2017 của Cục Thuế TP. Hà Nội về chính sách thuế. Lớp học kế toán thực hành tại Bắc Ninh
[Read More...]


TRUNG TÂM KẾ TOÁN HÀ NỘI

Return to top of page