Hạch toán chuyên sâu tài khoản 621 - chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp



TÀI KHOẢN 621 - CHI PHÍ NGUYÊN LIỆU, VẬT LIỆU TRỰC TIẾP

Tài khoản này chỉ dùng để phản ánh chi phí nguyên liệu, vật liệu sử dụng trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ của các ngành công nghiệp, xây lắp, nông, lâm, ngư nghiệp, giao thông vận tải, bưu diện, kinh doanh khách sạn, du lịch, dịch vụ khác.

HẠCH TOÁN TÀI KHOẢN NÀY CẦN TÔN TRỌNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH SAU

1. Chỉ hạch toán vào Tài khoản 621 những chi phí nguyên liệu, vật liệu (Gồm cả nguyên liệu, vật liệu chính và vật liệu phụ) được sử dụng trực tiếp để sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ trong kỳ sản xuất, kinh doanh. Chi phí nguyên liệu, vật liệu phải tính theo giá thực tế khi xuất sử dụng.

2. Trong kỳ kế toán thực hiện việc ghi chép, tập hợp chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp vào bên Nợ Tài khoản 621 “Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp” theo từng đối tượng sử dụng trực tiếp các nguyên liệu, vật liệu này (Nếu khi xuất sử dụng nguyên liệu, vật liệu cho quá trình sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ, xác định được cụ thể rõ ràng cho từng đối tượng sử dụng); hoặc tập hợp chung cho quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm, thực hiện dịch vụ (Nếu khi xuất sử dụng nguyên liệu, vật liệu cho quá trình sản xuất sản phẩm, dịch vụ không thể xác định cụ thể, rõ ràng cho từng đối tượng sử dụng).

3. Cuối kỳ kế toán, thực hiện kết chuyển (Nếu nguyên liệu, vật liệu đã được tập hợp riêng biệt cho đối tượng sử dụng), hoặc tiến hành tính phân bổ và kết chuyển chi phí nguyên liệu, vật liệu (Nếu không tập hợp riêng biệt cho từng đối tượng sử dụng) vào Tài khoản 154 phục vụ cho việc tính giá thành thực tế của sản phẩm, dịch vụ trong kỳ kế toán. Khi tiến hành phân bổ trị giá nguyên liệu, vật liệu vào giá thành sản xuất, doanh nghiệp phải sử dụng các tiêu thức phân bổ hợp lý như tỷ lệ theo định mức sử dụng,. . .

4. Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ, nếu mua nguyên liệu, vật liệu sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ, hoặc nếu mua nguyên liệu, vật liệu không qua nhập kho đưa vào sử dụng ngay cho hoạt động sản xuất, kinh doanh thì trị giá nguyên liệu, vật liệu sẽ không bao gồm thuế GTGT.

Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ, nếu mua nguyên liệu, vật liệu sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT hoặc thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp và doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, thì trị giá nguyên liệu, vật liệu sử dụng cho sản xuất, kinh doanh sẽ bao gồm cả thuế GTGT của khối lượng nguyên liệu, vật liệu mua vào sử dụng ngay không qua kho.

5. Phần chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp vượt trên mức bình thường không được tính vào giá thành sản phẩm, dịch vụ mà phải kết chuyển ngay vào TK 632 “Giá vốn hàng bán”.



KẾT CẤU VÀ NỘI DUNG PHẢN ÁNH CỦA TÀI KHOẢN 621 - CHI PHÍ NGUYÊN LIỆU, VẬT LIỆU TRỰC TIẾP

Bên Nợ:

Trị giá thực tế nguyên liệu, vật liệu xuất dùng trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm, hoặc thực hiện dịch vụ trong kỳ hạch toán.

Bên Có:

- Kết chuyển trị giá nguyên liệu, vật liệu thực tế sử dụng cho sản xuất, kinh doanh trong kỳ vào TK 154 “Chi phí sản xuất, kinh doanh dỡ dang” hoặc TK 631 “Giá thành sản xuất” và chi tiết cho các đối tượng để tính giá thành sản phẩm, dịch vụ;

- Kết chuyển chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp vượt trên mức bình thường vào TK 632;

- Trị giá nguyên liệu, vật liệu trực tiếp sử dụng không hết được nhập lại kho.

Tài khoản 621 không có số dư cuối kỳ.
PHƯƠNG PHÁP HẠCH TOÁN KẾ TOÁN MỘT SỐ NGHIỆP VỤ KINH TẾ CHỦ YẾU

1. Khi xuất nguyên liệu, vật liệu sử dụng cho hoạt động sản xuất sản phẩm, hoặc thực hiện dịch vụ trong kỳ, ghi:

Nợ TK 621 - Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp

Có TK 152 - Nguyên liệu, vật liệu.

2. Trường hợp mua nguyên liệu, vật liệu sử dụng (Không qua nhập kho) cho hoạt động sản xuất sản phẩm, hoặc thực hiện dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp khấu trừ, ghi:

Nợ TK 621 - Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp (Giá mua chưa có thuế GTGT)

Nợ TK 133 - Thuế GTGT được khấu trừ

Có các TK 331, 141, 111, 112,. . .

3. Trường hợp mua nguyên liệu, vật liệu sử dụng (Không qua nhập kho) sử dụng ngay cho hoạt động sản xuất sản phẩm, hoặc thực hiện dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp, ghi:

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại quảng ninh Nợ TK 621 - Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp (Giá mua có thuế GTGT)

Có các TK 331, 141, 111, 112,. . .

4. Trường hợp số nguyên liệu, vật liệu xuất ra không sử dụng hết vào hoạt động sản xuất sản phẩm, hoặc thực hiện dịch vụ cuối kỳ nhập lại kho, ghi:

Nợ TK 152 - Nguyên liệu, vật liệu

Có TK 621 - Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp.

5. Cuối kỳ kế toán, căn cứ vào Bảng phân bổ vật liệu tính cho từng đối tượng sử dụng nguyên liệu, vật liệu (Phân xưởng sản xuất sản phẩm, loại sản phẩm, công trình, hạng mục công trình của hoạt động xây lắp, loại dịch vụ,. . .) theo phương pháp trực tiếp hoặc phân bổ, ghi:

Nợ TK 154 - Chi phí sản xuất, kinh doanh dỡ dang

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hai bà trưng Nợ TK 631 - Giá thành sản xuất (Trường hợp hạch toán định kỳ tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ)

Nợ TK 632 - Giá vốn hàng bán (Phần chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp vượt trên mức bình thường)

Có TK 621 - Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp.

dịch vụ chữ ký số tại hải phòng Theo Nice Accounting

[Read More...]


Hạch toán chuyên sâu tài khoản 002 - Vật tư, hàng hoá giữ hộ, nhận gia công



TÀI KHOẢN 002 - VẬT TƯ, HÀNG HOÁ NHẬN GIỮ HỘ, NHẬN GIA CÔNG

Tài khoản này phản ánh giá trị tài sản, vật tư, hàng hoá của đơn vị khác nhờ doanh nghiệp giữ hộ hoặc nhận gia công, chế biến. Giá trị của tài sản nhận giữ hộ hoặc nhận gia công, chế biến được hạch toán theo giá thực tế khi giao nhận hiện vật. Nếu chưa có giá thì tạm xác định giá để hạch toán.

KẾT CẤU VÀ NỘI DUNG PHẢN ÁNH CỦA TÀI KHOẢN 002 - VẬT TƯ, HÀNG HOÁ NHẬN GIỮ HỘ, NHẬN GIA CÔNG

Bên Nợ:

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại nam định Giá trị tài sản, vật tư, hàng hoá nhận gia công, chế biến hoặc nhận giữ hộ.

Bên Có:

- Giá trị tài sản, vật tư, hàng hoá đã xuất sử dụng cho việc gia công, chế biến đã giao trả cho đơn vị thuê;

- Giá trị vật tư, hàng hoá không dùng hết trả lại cho người thuê;

- Giá trị tài sản, vật tư, hàng hoá nhận giữ hộ đã xuất chuyển trả cho chủ sở hữu thuê giữ hộ.

Số dư bên Nợ:

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại thanh trì Giá trị tài sản, vật tư, hàng hoá còn giữ hộ hoặc đang nhận gia công, chế biến chưa xong.

Các chi phí liên quan đến việc gia công, chế biến, bảo quản tài sản, vật liệu, hàng hoá nhận gia công, nhận giữ hộ không phản ánh vào tài khoản này mà phản ánh vào tài khoản tập hợp chi phí trong Bảng Cân đối kế toán.

Kế toán tài sản, vật tư, hàng hoá nhận gia công, chế biến hoặc nhận giữ hộ phải theo dõi chi tiết cho từng loại vật tư, hàng hoá, từng nơi bảo quản và từng người chủ sở hữu. Vật tư, hàng hoá nhận giữ hộ không được phép sử dụng và phải bảo quản cẩn thận như tài sản của đơn vị, khi giao nhận hay trả lại phải có chứng từ giao nhận của hai bên.
dịch vụ chữ ký số tại hải dương Theo Nice Accounting

[Read More...]


Hạch toán chuyên sâu tài khoản 008 - Dự toán chi sự nghiệp, dự án



TÀI KHOẢN 008 - DỰ TOÁN CHI SỰ NGHIỆP, DỰ ÁN

Tài khoản này dùng để phản ánh số dự toán chi sự nghiệp, dự án được cấp có thẩm quyền giao và việc rút dự toán ra sử dụng trong kỳ của các đơn vị được Ngân sách Nhà nước cấp, số dự toán còn lại cuối kỳ.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại đà nẵng Tài khoản này phải được theo dõi hạch toán chi tiết: dự toán chi sự nghiệp, dự toán chi dự án.

KẾT CẤU VÀ NỘI DUNG PHẢN ÁNH CỦA TÀI KHOẢN 008 - DỰ TOÁN CHI SỰ NGHIỆP, DỰ ÁN

Bên Nợ:

Số dự toán chi sự nghiệp, dự án được giao.

dịch vụ chữ ký số tại quận cầu giấy Bên Có:

Rút dự toán chi sự nghiệp, dự án ra sử dụng.

Số dư bên Nợ:

Dự toán chi sự nghiệp, dự án còn lại chưa rút.

Cuối năm, số dự toán chi sự nghiệp, dự án còn lại sẽ bị huỷ bỏ hoặc được chuyển sang năm sau theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Đối với các doanh nghiệp có nhiều loại dự toán thì mở sổ theo dõi chi tiết dự toán chi sự nghiệp và dự toán chi dự án chi tiết cho từng dự án.
Theo Nice Accounting
  dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận ba đình
[Read More...]


Khái quát nội dung IAS 16-Leases



Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế về thuê tài sản (IAS 16-Leases) có quá trình hình thành: 10/1980 bản thảo E 19 - kế toán đối với việc thuê tài sản (Accounting for Leases); 12/1982 Phát hành IAS 17 Kế toán thuê tài sản (Accounting for Leases);

1/1/1984 IAS 17 có hiệu lực; 1994 IAS 17 (1992) được chỉnh sửa lại; 4/1997 Ban hành bản nháp E56- Thuê Tài sản (Leases); 12/1997 Ban hành IAS 17; 1/1/1999 IAS 17 bắt đầu có hiệu lực; 18/12/2003 Chỉnh sửa lại IAS 17 được ban hành bởi IASB; 1/1/2005 IAS 17 (2003) có hiệu lực; 16/4/2009 IAS 17 được sửa lại theo chương trình cải cách hàng năm của IFRSs 2009 về việc phân loại tài sản là đất; 1/1/2010 IAS 17 2009 bắt đầu có hiệu lực

Mục đích của IAS 17 là miêu tả đối với bên đi thuê, bên cho thuê và chính sách kế toán phù hợp và sự công bố đối với việc áp dụng trong mối quan hệ tài chính và hoạt động thuê

Nội dung cơ bản: IAS 17 áp dụng đối với tất cả thuê hơn là thoả thuận thuê như khoáng sản, dầu, khí ga, và các nguồn lực tái sinh và các quyền đối với phim, video, ca nhạc, băng đĩa, bằng phát minh sáng chế, bản quyền và những thứ tương tự. Tuy nhiên, IAS 17 không áp dụng thước đo cơ bản đối với những tài sản dưới đây:

+ Bất động sản đầu tư được nắm giữ bởi người thuê và được kế toán như khoản bất động sản đầu tư đối với người thuê sử dụng phương pháp giá trị hợp lý như IAS 40

+ BĐS đầu tư được cung cấp cho người cho thuê theo phương thức thuê hoạt động

+ Tài sản sinh học được nắm giữ bởi người đi thuê theo phương thức thuê tài chính

+ Tài sản sinh học được nắm giữ bởi người cho thuê theo phương thức thuê hoạt động

Phân loại tài sản thuê: việc thuê được phân loại là thuê tài chính nếu việc chuyển giao tất cả rủi ro và lợi ích đối với người sở hữu. Tất cả những tài sản còn lại được phân loại là thuê hoạt động. Sự phân loại được thực hiện từ khi bắt đầu thuê tài sản. Xác định là tài sản thuê tài chính hay thuê hoạt động phụ thuộc vào bản chất của các giao dịch hơn là hình thức. Các tình huống thông thường dẫn đến được phân loại là thuê tài chính như sau:

+ Bên thuê chuyển giao quyền sở hữu của tài sản cho bên đi thuê khi kết thúc thời hạn thuê

+ Bên đi thuê có quyền lựa chọn mua lại tài sản với giá thấp hơn giá trị hợp lý tại ngày mua quyền chọn

+ Điều khoản thuê chiếm phần lớn thời gian kinh tế của tài sản kể cả khi không được chuyển giao

+ Tại thời điểm khởi đầu thuê giá trị hiện tại của khoản thanh toán tài sản thuê thấp nhất đối với tất cả giá trị hợp lý của tài sản thuê

+ Tài sản thuê là tài sản chuyên dùng mà bên đi thuê không cần bất cứ sự sửa chữa nào

Những tình huống khác như sau cũng có thể dẫn đến phân loại là thuê tài chính:

+ Nếu bên đi thuê huỷ bỏ việc thuê thì tổn thất bên cho thuê sẽ được bồi thường bởi bên đi thuê

+ Sự thay đổi về thu nhập hay tổn thất từ theo giá trị hợp lý của giá trị còn lại là thuộc bên đi thuê

+ Bên đi thuê có thể tiếp tục thuê đối với giá thuê thấp hơn giá thị trường

Khi tài sản thuê bao gồm đất và xây dựng cơ bản thì doanh nghiệp đánh giá và phân loại riêng biệt thành thuê tài chính và thuê hoạt động. Đất được phân loại là thuê tài chính hay thuê hoạt động phụ thuộc vào vòng đời kinh tế. Rất cần thiết khi phân loại và kế toán thuê của đất, nhà cửa và việc thanh toán thấp nhất được xác định giữa đất và nhà trong phần giá trị hợp lý của người thuê nắm giữ từ thời điểm ban đầu thuê. Đối với việc thuê đất và nhà thì việc ghi nhận ban đầu đối với yếu tố cơ bản của đất đó là vô hình. Đất và nhà cũng có thể được xem như là tình yếu tố riêng biệt cho mục đích phân loại thuê là thuê tài chính hay thuê hoạt động. Tuy nhiên, thước đo riêng biệt cơ bản của đất và nhà không được yêu cầu nếu lợi ích của bên thuê cả trong đất và nhà được phân loại như là bất động sản đầu tư theo quy định của IAS 40 và mô hình giá trị hợp lý được sử dụng.

Kế toán bởi bên thuê: Những nguyên tắc kế toán cơ bản được áp dụng trong BCTC của bên thuê:

+ Bắt đầu của điều khoản thuê: Bên thuê tài chính ghi nhận tăng tài sản và nợ phải trả với giá thấp hơn giá trị hợp lý của tài sản và giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu (tính theo tỷ lệ lãi suất ngầm của việc thuê hoặc tỷ lệ lãi suất doanh nghiệp đi vay).

+ Phương thức thanh toán thuê tài chính được chia thành từng phần giữa giá phí thuê tài chính và khoản giảm nợ phải trả (khoản phí thuê này được xác định như một quá trình và không thay đổi từ đầu theo tỷ lệ lãi suất xác định trước và duy trì trên Bảng cân đối kế toán theo khoản mục Nợ phải trả.

+ Chính sách khấu hao đối với tài sản thuê thì bên thuê thực hiện khấu hao giống với tài sản của doanh nghiệp sở hữu. Nếu không có lý do để phản ánh rằng bên thuê sẽ chuyển giao quyền sở hữu ở cuối thời hạn thuê thì tài sản nên được khấu hao ngắn hơn thời hạn thuê hoặc vòng đời của tài sản.

+ Tài sản thuê hoạt động, thì việc thanh toán sẽ được xác định như là khoản chi phí trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và được xác định theo phương pháp đường thẳng trừ khi có liên quan đến thời gian thu được lợi ích kinh tế của người sử dụng

Chuẩn mực đưa ra quy định đối với việc thuê lần đầu hoặc thuê lại tài sản thuê hoạt động nên được ghi nhận bởi bên đi thuê khoản chi phí tiền thuê thông qua thời gian thuê mà không nên phụ thuộc vào cách thức thuê hoặc thời gian thanh toán

Kế toán bởi bên đi thuê: những nguyên tắc sau đây được áp dụng trong BCTC của bên cho thuê:

+ Tại thời điểm khởi đầu thuê, bên cho thuê ghi nhận thuê tài chính trên Bảng CĐKT như là khoản phải thu, giá trị tương ứng với giá trị thuần của khoản đầu tư

+ Bên cho thuê ghi nhận thu nhập từ cho thuê tài chính theo thời gian và tỷ lệ không thay đổi hoàn trả hoàn đầu tư của tài sản thuê tài chính

+ Tài sản nắm giữ đối với thuê hoạt động nên được trình bày trong Bảng CĐKT của bên cho thuê bình thường. Thu nhập từ việc cho thuê sẽ được ghi nhận thông qua thời hạn thuê và theo phương pháp đường thẳng trừ khi có quy định khác mà phản ánh thời hạn lợi ích sử dụng là thu được từ tài sản thuê được thanh lý

Chuẩn mực quy định đối với việc thuê ban đầu hoặc thuê lại đối với thuê hoạt động nên được ghi nhận bởi bên cho thuê như là việc giảm bớt khoản tiền thuê thông qua thời gian thuê mà không nên phụ thuộc vào hình thức hoặc thời gian thanh toán.. Nhà sản xuất hoặc bên cho thuê nên bao gồm lợi nhuận bán hoặc lỗ trong cùng khoảng thời gian vì đây là hoạt động bán ra bên ngoài. Nếu thấp hơn tỷ lệ lợi nhuận được ghi nhận, lợi nhuận từ việc bán nên hạn chế được áp dụng đối với khoản phí của tỷ lệ lợi ích thương mại . Theo bản sửa của IAS 17 sự ghi nhận trực tiếp ban đầu và giá phí tăng lên không xảy ra bởi bên cho thuê trong việc thương lượng tài sản thuê phải được ghi nhận thông qua thời hạn thuê. Cách quy định này không áp dụng đối với nhà máy sản xuất hoặc bên cho thuê nơi mà giá phí được như là một khoản chi phí khi lợi nhuận từ việc bán được ghi nhận

Bán và giao dịch thuê lại: đối với giao dịch bán và thuê lại theo phương thức thuê tài chính, bất kỳ sự vượt quá giá trị được hoãn lại và lũy kế qua thời gian thuê. Đối với một giao dịch là kết quả của thuê hoạt động:

+ Nếu giao dịch này rõ ràng được thực hiện ở giá trị hợp lý thì lợi nhuận hoặc lỗ sẽ được ghi nhận ngay

+ Nếu giá bán thấp hơn giá trị hợp lý thì lợi nhuận hoặc lỗ cũng được ghi nhận ngay, trừ khi lợi nhuận được bồ hoàn đối với giá thuê trong tương lai ở mức thấp hơn giá thị trường, khoản lỗ sẽ được lũy kế thông qua thời gian sử dụng

+ Nếu giá bán cao hơn giá trị hợp lý thì phần vượt quá giá trị hợp lý sẽ được hoãn lại và lũy kế thông qua thời gian sử dụng

+ Nếu giá trị hợp lý ở cùng thời điểm giao dịch thấp hơn giá trị thì khoản lỗ tương ứng sẽ được ghi nhận ngay

Công bố thông tin:

+ Tổng giá trị của tài sản

+ đồng nhất giữa khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu và giá trị hiện tại của nó

+ Tổng giá trị tiền thuê tối thiểu ở ngày của Bảng cân đối kế toán và giá trị hiện tại cho năm tới, 2 năm tiếp thông qua 5 lần hợp nhất, vượt quá 5 năm

+ Chi phí phát sinh được ghi nhận như khoản chi phí

+ Tổng thu nhập từ việc cho thuê lại tối thiểu khi không có thể hủy bỏ việc cho thuê lại

+ Thanh toán thuê và cho thuê lại được ghi nhận trong khoản thu nhập đối với giai đoạn đó

+ Các khoản chi phí thuê được ghi nhận là chi phí trong kỳ

+ Miêu tả về điều khoản thuê bao gồm khoản dự phòng thuê ngẫu nhiên, thuê lại hoặc lựa chọn bán, hạn chế sự áp đặt trong việc chia cổ tức, vay

Công bố thông tin: bên cho thuê - thuê tài chính

+ Đồng nhất giữa thu nhập đầu tư trong việc thuê và giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu

+ Tổng giá trị khoản đầu tư và giá trị hiện tại của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu có thể nhận được của: năm tới, hai năm tiêp qua 5 lần hợp nhất, vượt quá 5 năm

+ Không phải khoản thu nhập tài chính

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng + Không được bảo đảm về giá trị còn lại

+ Khoản trợ cấp lũy kế đối với khoản thuê tài chính có thể nhận được

+ Kác khoản thu liên quan đến việc thuê được ghi nhận là thu nhập

+ Miêu tả chung các vấn đề liên quan đến hợp đồng thuê

Công bố: bên thuê đối với thuê hoạt động

dịch vụ chữ ký số tại hải phòng + Tổng giá trị của khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu ở Bảng CĐKT đối với tài sản thuê hoạt động không có thể hủy trong việc tập hợp lại cho: Năm tới, 2 năm tiếp theo với 5 lần hợp nhất và quá 5 năm.

+ Các khoản thu liên quan được ghi nhận vào thu nhập

+ Miêu tả các yếu tố cơ bản của điều khoản thuê hoạt động
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hai bà trưng Theo Kiểm toán nhà nước

[Read More...]


Vấn đề định giá tài sản trong doanh nghiệp



Thông tin về giá trị tài sản của doanh nghiệp trình bày trên báo cáo tài chính hiện nay trên thế giới đang có nhiều thay đổi cơ bản. Sự thay đổi này xuất phát từ nhu cầu thông tin thích hợp và đầy đủ của các đối tượng sử dụng thông tin.

Trong nền kinh tế thị trường, thông tin trên báo cáo tài chính là cơ sở nền tảng để đưa ra các quyết định về quản lý, đầu tư và vay nợ. Để có thể cung cấp thông tin thích hợp với các quyết định kinh doanh, việc xác định giá trị tài sản trên báo cáo tài chính cần hướng đến nhu cầu thông tin các đối tượng sử dụng.

1. Định giá tài sản trên báo cáo tài chính

Định giá tài sản trên báo cáo tài chính là một tiến trình xác định giá trị tiền tệ của tài sản được ghi nhận và trình bày trên báo cáo tài chính.

Cơ sở định giá tài sản là phương pháp xác định giá trị tài sản được lựa chọn ghi nhận trên các báo cáo tài chính. Cơ sở định giá tài sản được xác định căn cứ vào giá trị đo lường tài sản và đơn vị đo lường là đơn vị tiền tệ không đổi hay mức giá chung.

- Theo khuôn mẫu lý thuyết của Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế, các giá trị có thể sử dụng để đo lường tài sản là:

+ Giá gốc: Tài sản được ghi nhận theo số tiền hoặc các khoản tương đương tiền đã trả hoặc ghi theo giá trị thực tế của tài sản đó vào thời điểm có được tài sản.

+ Giá trị thuần có thể thực hiện được (giá đầu ra hiện tại): Tài sản được ghi nhận theo số tiền hoặc các khoản tương đương tiền hiện tại có thể thu được nếu bán các tài sản đó.

+ Giá hiện hành (Giá thay thế hay giá đầu vào hiện tại): Tài sản được ghi nhận theo số tiền hoặc các khoản tương đương tiền sẽ phải trả nếu như tài sản đó có được tại thời điểm hiện tại.

+ Giá hiện tại chiết khấu (Hiện giá): Tài sản được ghi nhận theo giá trị hiện tại của các luồng tiền dự định thu vào trong tương lai từ việc sử dụng tài sản.

Thông tin cung cấp thông qua giá trị tài sản có thể tóm lược theo bảng 1.

Bảng 1: Giá trị tài sản và thông tin cung cấp



Qua đối chiếu các chuẩn mực kế toán VN và hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế đang được áp dụng cho thấy các loại tài sản khác nhau được áp dụng các cơ sở định giá khác biệt. Bảng 2 cung cấp thông tin tổng quát về sự khác biệt về cơ sở định giá áp dụng đối với các tài sản trình bày trên báo cáo tài chính.

Bảng 2: Cơ sở định giá các loại tài sản trên báo cáo tài chính



Mục tiêu chủ yếu của báo cáo tài chính là nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng. Nhìn từ góc độ này, báo cáo tài chính cần cung cấp các thông tin về quá khứ, hiện tại và tương lai. Vì vậy, sự kết hợp giữa các loại giá sử dụng trên báo cáo tài chính như quy định trong các chuẩn mực kế toán quốc tế cũng như chuẩn mực kế toán VN là nhằm mục tiêu cung cấp thông tin đầy đủ, và đa dạng đáp ứng yêu cầu thông tin của người sử dụng.

Tuy nhiên, sự kết hợp các cơ sở định giá khác nhau để xác định giá trị tài sản trình bày trên báo cáo tài chính lại tạo nên thông tin khó hiểu và đôi khi không thích hợp đối với người sử dụng báo cáo tài chính. Sự khác biệt về giá trị của các loại tài sản trình bày trên báo cáo tài chính dẫn đến kết quả là giá trị của tổng tài sản trên báo cáo tài chính không phản ánh tổng giá trị tài sản theo giá gốc, cũng không phản ánh tổng giá trị tài sản theo giá thị trường.

2. Nhu cầu thông tin

Các nhóm đối tượng sử dụng thông tin kế toán với các nhu cầu thông tin khác nhau làm nảy sinh tính đa dạng và phức tạp đối với nhu cầu thông tin cần cung cấp.

Trong nền kinh tế thị trường, các thông tin trình bày trên các báo cáo tài chính chịu ảnh hưởng của 2 nhóm đối tượng chính là nội bộ doanh nghiệp (những nhà quản lý của doanh nghiệp theo từng cấp độ), và những người sử dụng bên ngoài doanh nghiệp (chủ yếu là các nhà nhà đầu tư và những người cho vay).

Phần lớn các báo cáo tài chính hiện nay tại các quốc gia chủ yếu hướng đến mục tiêu cung cấp thông tin cho người sử dụng bên ngoài doanh nghiệp. Các báo cáo tài chính này thường gọi là các báo cáo tài chính theo mục đích chung, và không nhằm ý định đáp ứng nhu cầu của những người sử dụng đòi hỏi những thông tin cụ thể.

Mục tiêu của những báo cáo tài chính theo mục đích chung là nhằm thể hiện những tác động về mặt kinh tế của các nghiệp vụ cũng như các sự kiện đã xảy ra đối với tình trạng tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị. Mặc dù có nhiều cách khác nhau trong việc thể hiện thông tin tài chính, tuy nhiên những báo cáo tài chính cho mục đích chung thường trình bày những thông tin tài chính phù hợp với những quyết định về đầu tư (đối với nhà đầu tư), và tín dụng (đối với những người cho vay).

Đối với các nhà đầu tư, họ cần biết các thông tin tài chính về khả năng sinh lợi và rủi ro tiềm tàng liên quan đến vốn đầu tư. Họ cần những thông tin để xác định xem khi nào thì nên mua, giữ lại hay nên bán các khoản đầu tư cũng như các thông tin về khả năng thanh toán các khoản cổ tức của doanh nghiệp. Đối với những người cho vay, họ cần những thông tin tài chính về giá trị của tài sản thế chấp nợ vay, nguồn trả nợ vay và khả năng thanh toán của doanh nghiệp khi các khoản nợ gốc và lãi vay đến hạn.

Trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển vượt bậc, môi trường kinh doanh luôn thay đổi và vấn đề lạm phát là tất yếu như hiện nay, thông tin về giá trị tài sản trên báo cáo tài chính nếu chỉ trình bày theo giá gốc thì sẽ không thích hợp với các đối tượng sử dụng thông tin để đưa ra quyết định kinh tế.

3. Định giá tài sản theo nhu cầu thông tin

Tính thích hợp của thông tin kế toán trong tiến trình ra quyết định được đánh giá thông qua sự tác động của các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính đến quyết định kinh tế của các đối tượng sử dụng thông tin.

Một trong những thông tin quan trọng nhất để đánh giá hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường là khả năng thích ứng của doanh nghiệp với sự thay đổi của môi trường kinh doanh và khả năng tồn tại của doanh nghiệp. Sự tồn tại của doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng cung cấp hàng hoá hay dịch vụ liên quan đến các tài sản hiện hữu.

Khi so sánh các giá trị sử dụng để đo lường tài sản, thì giá gốc và giá hiện hành đều thể hiện giá trị đầu vào của tài sản, riêng giá trị thuần có thể thực hiện thể hiện giá trị đầu ra của tài sản. Xét dưới góc độ này, giá trị thuần có thể thực hiện của các tài sản là thông tin quan trọng về giá trị hiện tại của các nguồn lực sẵn có tại doanh nghiệp, thông tin này sẽ hổ trợ cho các nhà đầu tư, những người cho vay cũng như bản thân nhà quản lý trong việc đánh giá khả năng tồn tại của doanh nghiệp. Đối với những người cho vay, giá trị thuần có thể thực hiện phản ánh giá trị thị trường của các tài sản thế chấp bảo đảm nợ vay còn là thông tin thích hợp cho các quyết định vay nợ.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại minh khai hai bà trưng Bên cạnh đó, giá trị thuần có thể thực hiện được còn phản ánh khoản lợi ích kinh tế tăng lên hay giảm đi trong quá trình sử dụng tài sản, thông tin này phù hợp với khái niệm lợi nhuận kinh tế liên quan đến việc xác định lợi nhuận có lưu ý đến sự bảo toàn vốn. Lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp có tính đến bảo toàn vốn sẽ bao gồm cả các khoản thu nhập hay lỗ phát sinh từ sự thay đổi giá trị của tài sản như:

- Thu nhập (lỗ) đã thực hiện phát sinh từ các giao dịch bán tài sản trong kỳ kế toán (chênh lệch giữa giá bán tài sản và giá trị thuần có thể thực hiện của tài sản ước tính vào đầu kỳ).

- Thu nhập (lỗ) chưa thực hiện phát sinh từ sự thay đổi giá trị tài sản (chênh lệch giữa giá trị thuần có thể thực hiện của tài sản ước tính cuối kỳ và đầu kỳ).

Nhìn từ góc độ lý thuyết kế toán, khi tất cả các tài sản được đo lường với cùng một cơ sở định giá, giá gốc hay giá thị trường, thì điều này sẽ đáp ứng nhu cầu thông tin dễ hiểu hơn cho các đối tượng sử dụng báo cáo tài chính. Bên cạnh đó, việc áp dụng các cơ sở định giá tài sản theo giá thị trường thay thế dần nguyên tắc giá gốc tại nhiều quốc gia trong những năm gần đây cho thấy xu thế định giá tài sản trên báo cáo tài chính đang hướng đến giá thị trường nhằm đáp ứng đầy đủ hơn yêu cầu thông tin của người sử dụng.

dịch vụ chữ ký số tại quận hoàng mai Vì vậy, việc chọn lựa cơ sở định giá cho tất cả các tài sản là giá trị thuần có thể thực hiện kết hợp với việc trình bày giá gốc trong thuyết minh báo cáo tài chính sẽ nâng cao tính dễ hiểu của thông tin kế toán trên báo cáo tài chính đối với người sử dụng, đồng thời thông tin kế toán cung cấp sẽ thích hợp và đầy đủ hơn nhằm hổ trợ cho các quyết định kinh tế của các đối tượng sử dụng thông tin, chủ yếu là các nhà đầu tư và những người cho vay, trong nền kinh tế thị trường.

Chức năng quan trọng nhất của kế toán là cung cấp thông tin, các cơ sở định giá chỉ là công cụ để xác định giá trị tài sản-loại thông tin cần cung cấp. Vì vậy, yếu tố quyết định để chọn lựa cơ sở đo lường nào để định giá tài sản giữa các cơ sở đo lường khác nhau cần phải dựa trên nhu cầu thông tin của các đối tượng sử dụng
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận bình thạnh Theo Tạp chí kế toán

[Read More...]


Nghiên cứu phương pháp kế toán chi phí dựa trên mức độ hoạt động



Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, thông tin kế toán đòi hỏi phải chính xác, chi tiết và cập nhật hơn. Trước đây, các doanh nghiệp sản xuất chỉ sử dụng phương pháp phân bổ chi phí tuyền thống – VBC (vol – ume based cost) nhưng đến nay, phương pháp phân bổ này đang dần được thay thế bằng phương pháp kế toán chi phí dựa trên mức độ hoạt động –ABC (Activities based cost).

Lý do được đưa ra là theo phương pháp VBC, việc phân bổ chi phí sản xuất chung trong giá thành sản xuất – giá thành công xưởng thường được phân bổ cho từng sản phẩm dựa trên một tiêu thức phân bổ cố định (thông thường là giờ công lao động trực tiếp). Việc phân bổ toàn bộ chi phí chung theo một tiêu thức phân bổ cố định như vậy không phù hợp bởi chi phí chung bao gồm nhiều khoản mục có bản chất khác nhau vào quá trình sản xuất khiến cho giá thành thực tế của sản phẩm, bị phản ánh không chính xác dẫn đến các quyết định kinh tế của doanh nghiệp bị sai lệch. Còn theo phương pháp ABC, chi phí chung được phân bổ dựa vào các yếu tố của chi phí nên có thể thấy phương pháp ABC cung cấp thông tin giá thành chính xác và hợp lý hơn so với phương pháp kế toán chi phí truyền thống.
Mở rộng hơn, nếu xem xét giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ, việc áp dụng phương pháp ABC cũng sẽ dẫn đến số liệu về giá thành toàn bộ sản phẩm tiêu thụ phản ánh chính xác hơn, vì tiêu thức phân bổ chi phí gián tiếp chung theo phương pháp ABC sẽ thích hợp với từng loại chi phí gián tiếp (chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp) chứ không cố định như phương pháp VBC. Có thể nói, ưu điểm vượt trội của phương pháp ABC so với phương pháp VBC là phương pháp ABC chuyển những chi phí gián tiếp thành những chi phí trực tiếp thông qua phân loại các hoạt động cũng như mức độ đóng góp của các hoạt động này vào giá thành sản xuất.
Ví dụ sau đây sẽ minh họa sự khác biệt về kết quả theo phương pháp VBC và phương pháp ABC: Giả sử rằng nhà máy Cooplan có 4 sản phẩm W, X, Y và Z, số liệu được tập hợp như Bảng 1.
Bảng 1:



Giá mỗi giờ công lao động trực tiếp là 5.
Tổng chi phí chung (£) như sau:
Chi phí biến đổi 3.080
Chi phí cố định 10.920
Chi phí xúc tiến và lên kế hoạch 9.100
Chi phí liên quan đến bao gói bán hàng 7.700
Tổng 30.800
Tính giá thành đơn vị sản phẩm theo phương pháp VBC và phương pháp ABC.
Trường hợp 1: Theo phương pháp truyền thống
Phân bổ chi phí sản xuất chung với tiêu thức là tổng số giờ công = 30.800: 440 = 70 giờ công trực tiếp hay giờ của máy móc thiết bị. Trong đó, tổng số giờ công = (1 x 10) + (3 x 10) + (1 x 100) + (3 x 100) = 440 (Bảng 2).
Bảng 2:



Trường hợp 2: Theo phương pháp ABC
Căn cứ vào mối liên quan trực tiếp đến chi phí sản xuất chung, tiến hành phân bổ cho chi phí chung theo số giờ công lao động trực tiếp hoặc số lần máy vận hành
- Phân bổ chi phí biến đổi theo số giờ công lao động trực tiếp: 3080:440=7/giờ
- Phân bổ chi phí cố định ban đầu theo số lần vận hành: 10.920: 14 = 780/lần
- Phân bổ chi phí xúc tiến và lên kế hoạch theo số lần vận hành: 9.100:14=650/lần
- Phân bổ chi phí liên quan đến gói hàng hoá: 7.700:14 = 550/lần
Từ phân bổ này ta có bảng tính (Bảng 3).
Bảng 3:



So sánh hai phương pháp (Bảng 4).
Bảng 4:


Học kế toán tổng hợp thực hành Tại bắc ninh
Bảng so sánh này cho thấy, nếu như các nhà quản lý và kế toán căn cứ vào phương pháp VBC giá thành đơn vị của các sản phẩm W, X, Y và Z, sẽ chênh lệch so với giá thành đơn vị của phương pháp ABC, đặc biệt đối với các sản phẩm W, X, Y có thể doanh nghiệp định giá bán dẫn đến lỗ mà vẫn không biết vì đã có lãi từ sản phẩm Z bù đắp. Điều này sẽ dẫn đến việc định giá bán sản phẩm và các báo cáo chi phí sản xuất cũng sẽ sai lệch, ảnh hưởng đến các quyết định quản lý trong doanh nghiệp về cơ cấu sản phẩm nhằm tối đa hoá lợi nhuận hay những quyết định khác.

dịch vụ chữ ký số tại quận long biên Từ những phân tích trên, có thể đưa ra quy trình và mô hình áp dụng đối với phương pháp ABC
Có thể đưa ra bốn bước cơ bản sau:
Bước 1: Xác định các hoạt động chính của doanh nghiệp: Toàn bộ quy trình sản xuất của doanh nghiệp sẽ được phân loại thành các hoạt động chính
Bước 2: Xác định các nguồn lực phát sinh chi phí, đó là nhân tố làm thay đổi chi phí hoạt động
Bước 3: Tập hợp các chi phí liên quan đến nguồn phát sinh chi phí và phân bổ cho các hoạt động
Bước 4: Phân bổ chi phí chung cho các sản phẩm, dịch vụ.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hai bà trưng Theo tạp chí kế toán

[Read More...]


Cần chính sách thuế mới cho chi phí quảng cáo



Nhiều lãnh đạo doanh nghiệp cho rằng: việc hạn chế chi quảng cáo như vậy, doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc mở rộng thị trường.

Tính đến nay, chính sách khống chế quảng cáo khuyến mại đã được áp dụng 13 năm.

Hạn chế chi phí tiếp thị, quảng cáo ở mức 10% tổng chi phí hợp lý

Theo khoản 9, điều 2 của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp: chi phí dành cho “quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng môi giới; chi tiếp tân, khánh tiết, hội nghị; chi hỗ trợ tiếp thị, chi hỗ trợ chi phí, chiết khấu thanh toán; chi báo biếu, báo tặng của cơ quan báo chí liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh” không được vượt quá 10% tổng số chi được trừ, đối với doanh nghiệp mới thành lập: phần chi được phép vượt quá 15% trong ba năm đầu, kể từ khi được thành lập.

Nhiều lãnh đạo doanh nghiệp cho rằng: việc hạn chế chi quảng cáo như vậy, doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc mở rộng thị trường. Đặc biệt là trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt như hiện nay, không khuyến mại, không quảng cáo, không thử sản phẩm – làm sao… bán được hàng?

Doanh nghiệp trong nước than thở, doanh nghiệp nước ngoài cũng liên tục kêu ca về quy định này; bởi lẽ, trên thế giới, còn “độc” Việt Nam và Trung Quốc khống chế mức chi này.

Một số chuyên gia đề nghị, trước mắt, từ nay đến 2013, Bộ Tài chính có thể trình Thủ tướng Chính phủ và UBTVQH cho phép nới tỷ lệ khống chế chi phí quảng cáo lên 15% (tức là tăng thêm 5% tổng số chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp)…

Cơ quan quản lý cũng có lý riêng

Bởi lẽ, chính sách này liên quan đến vấn đề lợi ích của quốc gia. Dưới góc độ cơ quan quản lý, lãnh đạo Vụ Chính sách thuế, Bộ Tài chính cho rằng: doanh nghiệp FDI như “con đỉa hai vòi”: họ có công ty mẹ ở nước ngoài hỗ trợ nên sẵn sàng quảng cáo lớn, kể cả chấp nhận lỗ nhiều năm… Trong khi quy định về quảng cáo chưa nghiêm, công cụ và biện pháp kiểm soát chưa thực sự hiệu quả mà quảng cáo thì cứ “ào ào” - Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp không thể đứng ngoài.

Nhiều vấn đề có thể xảy ra, ví như: doanh nghiệp nước ngoài sẽ biểu diễn “kỹ thuật” để hạn chế phần thuế phải đóng. Chưa kể đến rắc rối khi một số công ty liên doanh - phía Việt Nam luôn bị thiệt thòi. Bên cạnh đó, phía nước ngoài thường dựa vào nguồn lực từ công ty mẹ nên sẵn sàng chi mạnh cho quảng cáo dù thua lỗ nhiều năm. Từ đó, dẫn tới việc phía Việt Nam “không chịu nổi nhiệt” và phải chuyển nhượng phần vốn của mình - trở thành 100% vốn nước ngoài. Đây không chỉ là tình huống lý thuyết mà đã và đang diễn ra trên thực tế.

Hơn nữa, theo kết quả khảo sát do Viện Kinh tế - Tài chính (Bộ Tài chính) tiến hành: 66% doanh nghiệp được hỏi cho biết - nên khống chế trần quảng cáo. Dù đây là một bài toán khó giải, nhưng tựu trung lại, nhà nước vẫn đang cố gắng bảo vệ quyền lợi của doanh nghiệp Việt Nam – tạo điều kiện cạnh tranh bình đẳng và minh bạch.

Đâu là giải pháp cho doanh nghiệp Việt Nam ?

Vậy đâu là giải pháp cho doanh nghiệp có thể vừa mở rộng thị trường mà không vi phạm điều luật về quảng cáo đã và đang tồn tại trong 13 năm nay? Câu trả lời hợp lý nằm ở cách thức lựa chọn hình thức quảng cáo sao cho vừa hiệu quả vừa tiết kiệm.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng Hình thức quảng cáo trực tuyến, có lẽ là ưu tiên số 1 hiện nay. Ưu điểm vượt trội của hình thức quảng cáo này là khả năng truyền tải không giới hạn về thời gian, địa lý, dung lượng và tương tác hai chiều với khách hàng. Ngoài ra, hiệu quả của quảng cáo cũng dễ đong đếm vì doanh nghiệp có thể thống kê lượt click, lượng view… theo từng ngày. doanh nghiệp cũng có thể dừng ngay hoặc thay đổi chiến dịch khi cần thiết. Đặc biệt, chi phí cho hình thức này rẻ hơn quảng cáo truyền thống rất nhiều.

Nắm bắt được nhu cầu cấp bách hiện nay của doanh nghiệp, tại Việt Nam, Google, Yahoo, Facebook, Admicro vẫn đang tiếp tục phát triển những dòng sản phẩm quảng cáo tối ưu mới như: thanh toán theo click (CPC), thanh toán theo 1000 lượt hiển thị (CPM Mass, CPM 7000, CMP mobile, CPM TVC online)…

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận ba đình Với các hình thức quảng cáo này, chắc chắn ngân sách sẽ gọn gàng hơn rất nhiều mà quảng cáo của doanh nghiệp vẫn có thể xuất hiện tại những vị trí đẹp trên trang chủ hàng loạt website uy tín như: Cafef.vn, Dantri.com.vn, Vietnamnet.vn, Kenh14.vn… hoặc phủ rộng mạng lưới tìm kiếm của Google, mạng xã hội lớn nhất toàn cầu Facebook.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng có thể lựa chọn các phương án đầu tư mang lại hiệu quả lâu dài như: Viral Marketing trên mạng xã hội, forum… hay đi sâu đầu tư vào nội dung, tính hiệu quả của Email Marketing, TeleMarketing...
dịch vụ chữ ký số tại hải phòng Theo Tạp chí tài chính

[Read More...]


TRUNG TÂM KẾ TOÁN HÀ NỘI

Return to top of page