Thảo luận Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (sửa đổi)



Ngày 18/6, Quốc hội thảo luận Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (sửa đổi), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng và thông qua Luật Khoa học và Công nghệ.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại đà nẵng Trong buổi thảo luận Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (sửa đổi) chiều ngày 6/6, các đại biểu Quốc hội đã tập trung cho ý kiến về đánh giá một số vấn đề lớn, đó là việc ban hành quy phạm pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến việc thực hiện vốn trái phiếu Chính phủ; việc thi hành Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ cho đầu tư xây dựng cơ bản, trong đó tập trung đánh giá những mặt được, những tồn tại hạn của Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

dịch vụ chữ ký số giá rẻ tại hà nội Các đại biểu đã phân tích, đánh giá trách nhiệm của các cơ quan có liên quan đối với các sai phạm, hạn chế trong công tác quản lý sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ và đưa ra các giải pháp xử lý, nhất là với các dự án đang triển khai một cách hiệu hiệu quả.

Sáng ngày 18/6, Quốc hội thảo luận Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí (sửa đổi).

Buổi chiều, Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Khoa học và Công nghệ (sửa đổi). Sau đó, các đại biểu sẽ thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, khen thưởng.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hà đông Theo mof


[Read More...]


Tổ chức tín dụng đang nỗ lực giảm tỉ lệ nợ xấu



Các tổ chức tín dụng (TCTD) dường như đã tìm kiếm đủ cách và đang tự xoay xở để mở rộng tín dụng, qua đó giảm tỉ lệ nợ xấu, trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng đang bế tắc từ phía cung. Điều này đòi hỏi phải có sự vào cuộc của Chính phủ và các bộ, ngành trung ương, đặc biệt là cần có giải pháp khả thi để tháo gỡ theo trình tự từng nút thắt của nền kinh tế.

Trong những năm gần đây, các TCTD liên tục đưa ra nhiều chương trình tín dụng với lãi suất ưu đãi nhằm chia sẻ khó khăn cùng doanh nghiệp, góp phần phục hồi sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, biện pháp này chưa mang lại kết quả mong đợi, tăng trưởng tín dụng ì ạch, nhiều doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn về đầu ra của sản phẩm.

Vấn đề đối với nền kinh tế lúc này là phải thúc đẩy nhu cầu chi tiêu, nên các TCTD đã tăng cường khai thác kênh cho vay tiêu dùng cá nhân với lãi suất thấp. Đây là loại hình tín dụng đa dạng với thủ tục đơn giản và nhanh gọn, được sử dụng rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới, người tiêu dùng có thể vay trực tiếp tại ngân hàng hoặc vay qua thẻ tín dụng. Một số ngân hàng cũng thực hiện chính sách khuyến mại nhằm thu hút khách hàng vay vốn, tùy theo đối tượng khách hàng, mục đích sử dụng vốn vay và giá trị khoản vay, chủ yếu là ưu đãi về lãi suất trong những tháng đầu tiên.

Bên cạnh tác động cân bằng nguồn vốn huy động và cho vay, việc triển khai loại hình cho vay tiêu dùng đang giúp các TCTD đạt được tốc độ tăng trưởng tín dụng như kế hoạch đề ra.

Loại hình dịch vụ ngân hàng bán lẻ này được hình thành và phát triển mạnh tại nhiều nước trên thế giới, chủ yếu là cho vay qua thẻ tín dụng (thẻ ghi nợ). Đặc điểm của loại hình cho vay này là, lãi suất thường cao hơn lãi suất cho vay thông thường, và khách hàng có thể vay thấu chi vượt quá thu nhập hàng tháng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu hàng ngày hay đáp ứng yêu cầu thanh toán đối với một loại hình dịch vụ nhất định.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại long biên Cho vay tiêu dùng có tác dụng là trực tiếp thúc đẩy chi tiêu, giúp doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hóa và tính toán khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh. Về khía cạnh kinh tế học, sản xuất và tiêu dùng có mối quan hệ nhân quả: sản xuất thúc đẩy tiêu dùng, và tiêu dùng thúc đẩy sản xuất. Tuy nhiên, trái với tác động của sản xuất đối với tiêu dùng, tác động của tiêu dùng đối với sản xuất thường chỉ mang tính ngắn hạn và không bền vững, chủ yếu là để đáp ứng nhu cầu chi tiêu trước mắt. Nếu không có nguồn thu, thì mức độ chi tiêu sẽ giảm dần. Để đảm bảo cho hoạt động cho vay tiêu dùng trở thành loại hình dịch vụ phổ biến và được khách hàng ưa chuộng, yếu tố quan trọng là phải tạo nguồn thu cho người vay.

Các ngân hàng cần tính toán và mở rộng cho vay đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, đây là nhóm doanh nghiệp năng động, hiệu quả cao và tạo nhiều công ăn việc làm cho xã hội. Trước mắt, cần hướng vào lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng thiết yếu hàng ngày và hàng xuất khẩu, chủ yếu là công nghiệp thực phẩm. Tuy nhiên, cũng phải rất thận trọng khi mở rộng cho vay, do làn sóng cho vay tiêu dùng lần này không thể tạo ra cú hích mạnh cho thị trường như thời điểm bùng nổ cho vay tiêu dùng xung quanh năm 2000 (giá nhà đất khi đó rất thấp), trong khi nhu cầu tiêu dùng trên thế giới cũng rất yếu ớt và rủi ro vẫn tiếp tục đe dọa.

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hai bà trưng Mặc dù tín dụng tiêu dùng qua thẻ tín dụng thường là món vay nhỏ, rủi ro thấp, nhưng không loại trừ nguy cơ rủi ro, một bộ phận không nhỏ chủ thẻ vốn là lao động tại các doanh nghiệp có vấn đề, thậm chí có nguy cơ phá sản. Vì thế, mỗi TCTD cần thường xuyên giám sát và cập nhật thông tin khách hàng, đảm bảo kiểm soát được người vay nhằm ngăn ngừa rủi ro nợ xấu; chỉ nên mở rộng cho vay qua thẻ dựa trên năng lực trả nợ của người vay và nguồn tài chính của ngân hàng; xác định rõ giới hạn rủi ro và những rủi ro có thể chấp nhận được; cân bằng giữa lợi ích trước mắt với mục tiêu phát triển trong dài hạn. Đây là yêu cầu cần thiết trong điều kiện tính minh bạch về thông tin khách hàng cá nhân và doanh nghiệp còn hạn chế, môi trường pháp lý còn có kẽ hở và chưa có chế tài đủ mạnh để thu hồi nợ xấu.

Các TCTD dường như đã tìm kiếm đủ cách và đang tự xoay xở để mở rộng tín dụng, qua đó giảm tỉ lệ nợ xấu, trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng đang bế tắc từ phía cung. Điều này đòi hỏi phải có sự vào cuộc của Chính phủ và các bộ, ngành trung ương, đặc biệt là cần có giải pháp khả thi để tháo gỡ theo trình tự từng nút thắt của nền kinh tế.
dịch vụ chữ ký số tại thanh xuân Theo tapchitaichinh
[Read More...]


Nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước: Thử thách lớn, quyết tâm cao



Nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2013 của ngành Hải quan được Quốc hội giao là 237.500 tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2012. Trung bình mỗi tháng số thu của Ngành là 19.792 tỷ đồng. Trong 5 tháng đầu năm, số thu của toàn Ngành mới đạt 29,8% dự toán, giảm 1,4% cùng kỳ năm 2012, nhiệm vụ còn lại trong những tháng cuối năm là rất nặng nề.

Trọng trách tăng thu

Những khó khăn đặt ra đối với nền kinh tế đất nước trong những tháng đầu năm 2013 cũng là những thách thức đối với việc thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách của ngành Hải quan. Số liệu sơ bộ từ Tổng cục Hải quan 5 tháng đầu năm 2013 cho thấy, dự kiến tổng số thu NSNN của Ngành mới đạt khoảng 74.506 tỷ đồng, bằng 31,4% dự toán, giảm 1,4% so với cùng kỳ. So với chỉ tiêu được giao, bình quân mỗi tháng phải thu là 19.792 tỷ đồng thì bình quân trong 5 tháng đầu năm, mỗi tháng mới đạt khoảng gần 15.000 tỷ đồng. Con số này phản ánh một thực tế khó khăn đang bao trùm không chỉ cộng đồng doanh nghiệp (DN) Việt Nam mà cả với các thị trường xuất khẩu khác.

Theo số liệu từ Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, trong 5 tháng đầu năm, số DN giải thể của cả nước lên đến 23.226 DN, bằng gần một nửa số DN giải thể phá sản của các năm 2011 và 2012. Riêng trong tháng 5/2013, con số này là 3.590 DN. Trước đó, năm 2012 có 53.972 DN giải thể, ngừng hoạt động; năm 2011 là 54.198 DN. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) tháng 4 và 5/2013.

Đáng quan tâm là do DN khó khăn về tài chính và khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, nên không ít DN đã lâm vào tình trạng chậm nộp, chây ỳ thuế, tìm nhiều cách để trốn thuế. Đây là một trong những thách thức lớn đối với toàn ngành Hải quan, bởi một nhiệm vụ được ngành Hải quan đặt ra trong năm 2013 là đẩy mạnh truy thu thuế nợ đọng, đồng thời hạn chế tình trạng nợ mới thuế và quyết liệt thực hiện các biện pháp khai thác nguồn thu có hiệu quả.

Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế còn nhiều khó khăn tác động xấu đến kết quả thu NSNN thì chỉ riêng nỗ lực của ngành Hải quan là chưa đủ mà cần có sự góp sức của các cấp, các ngành và chính quyền địa phương.

Quyết tâm cao…

Nhiệm vụ thu ngân sách trong chặng đường còn lại của năm 2013 được ngành Hải quan xác định là đầy chông gai, thử thách. Để cán đích đúng kế hoạch, ngành Hải quan đã quyết liệt triển khai nhiều giải pháp đồng bộ trong bối cảnh hiện nay nhưng vẫn phải đảm bảo nuôi dưỡng nguồn thu lâu dài.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại long biên Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu 5 tháng đầu năm đạt 49.700 tỷ đồng, bằng 29,8% dự toán, giảm 1,4% cùng kỳ năm 2012, trên cơ sở tổng số thu về xuất nhập khẩu đạt 74.600 tỷ đồng, hoàn thuế giá trị gia tăng theo chế độ 24.900 tỷ đồng.

Nguồn: Bộ Tài chính

Trong những tháng còn lại của năm, ngành Hải quan tiếp tục chỉ đạo mạnh mẽ các đơn vị thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương “Tuyên ngôn phục vụ khách hàng”. Giải quyết dứt điểm các vướng mắc thuộc thẩm quyền, tháo gỡ khó khăn trong hoạt động XNK, không gây phiền hà sách nhiễu tiêu cực đối với DN; Tập trung vào 3 mục tiêu cốt lõi là: Triển khai mở rộng thủ tục hải quan điện tử theo quy định tại Nghị định 87/2012/ NĐ-CP; Mở rộng số lượng DN ưu tiên làm thủ tục hải quan; Tiếp tục hiện đại hoá thu ngân sách giữa các cơ quan Thuế - Kho bạc - Hải quan.

Bên cạnh đó, Ngành sẽ chú trọng nâng cao hiệu quả nghiệp vụ, chống buôn lậu, gian lận thương mại, chống thất thu ngân sách. Với mục tiêu này, Ngành đã và đang nâng cao hiệu quả công tác quản lý rủi ro, phân tích, phân loại hàng hóa, góp phần chống gian lận qua giá, mã hàng hóa, C/O; Chỉ đạo các cục hải quan tăng cường giám sát XNK từ khâu trước, trong và sau thông quan đối với hàng tạm nhập tái xuất, hàng hóa ra, vào các khu chế xuất, khu kinh tế cửa khẩu...; Giao chỉ tiêu thu qua công tác kiểm tra sau thông quan tăng 30% so với số thực thu 2012. Công tác chống buôn lậu qua biên giới cũng được tăng cường kiểm soát tại các địa bàn trọng điểm; điều tra, xử lý có hiệu quả các trường hợp buôn lậu, gian lận thương mại đối với những mặt hàng có thuế suất cao, giá trị kinh tế lớn, như xăng dầu, khoáng sản, gỗ...

dịch vụ chữ ký số tại tp.vinh nghệ an Cùng với các giải pháp trên, ngành Hải quan cũng tập trung cải cách hành chính, thực hiện thủ tục hải quan điện tử hiệu quả, từ đó giảm thời gian thông quan hàng hóa, tạo thuận lợi cho hoạt động XNK. Ngành Hải quan cũng xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm, lĩnh vực trọng yếu, địa bàn có nguồn thu lớn, phân công lãnh đạo, chỉ đạo đơn vị có liên quan, khai thác nguồn thu có hiệu quả, chống thất thu thuế; Phân tích kim ngạch chịu thuế, mức thuế suất thuế XNK ảnh hưởng đến số thu đối với một số mặt hàng như: than, quặng Apatit, vàng, thuế hương liệu và hóa chất để sản xuất đồ uống, xăng dầu… để kiến nghị với Nhà nước điều chỉnh mức thuế suất phù hợp, tăng thu cho NSNN; Trình Bộ Tài chính có cơ chế xử lý hợp lý về giá xăng dầu trên cơ sở đó điều chỉnh tăng thuế nhập khẩu xăng dầu vào thời điểm thích hợp...

Đặc biệt, việc ngành Hải quan tập trung tăng cường công tác chống buôn lậu, chống gian lận thương mại qua giá, mã, thuế suất, số lượng cũng là một trong những giải pháp hiệu quả để tăng thu NSNN; Tăng cường giám sát đối với hàng tạm nhập-tái xuất; chú trọng thu thập các nguồn thông tin về hàng hóa, người khai hải quan… để phát hiện kịp thời các trường hợp sai phạm về loại hình, tên hàng, số lượng, xuất xứ... Mặt khác, nâng cao hiệu quả công tác phân tích phân loại, bảo đảm sự thống nhất về kết quả phân tích phân loại, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa các trường hợp khai sai tên hàng, mã số để gian lận thuế. Triển khai đề án quản lý nợ; hạn chế phát sinh nợ thuế mới quá hạn 90 ngày dưới 0,7%, tổng thu NSNN/năm…
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận long biên Theo tapchitaichinh


[Read More...]


Rủi ro trong kinh doanh ngoại hối ở Việt Nam



Kinh doanh ngoại tệ ngày càng có vị thế quan trọng trong hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh ngoại tệ chứa đựng nhiều rủi ro. Vì vậy, việc đo lường, tính toán để đưa ra những giải pháp nhằm giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh của các ngân hàng là rất quan trọng.

Kinh doanh ngoại tệ: Cơ hội và thách thức

Rủi ro trong kinh doanh ngoại hối tại các NHTM Việt Nam đặc biệt là rủi ro tỷ giá xảy ra khi ngân hàng duy trì trạng thái mở hối đoái với loại ngoại tệ nào đó. Khi tỷ giá của ngoại tệ đó thay đổi bất lợi sẽ dẫn đến thiệt hại cho ngân hàng. Vì vậy, việc đo lường mức độ rủi ro đối với từng ngoại tệ riêng lẻ và đối với danh mục ngoại tệ là cơ sở để ngân hàng đưa những biện pháp phòng ngừa rủi ro, nhằm giảm bớt thiệt hại.

Số liệu về tỷ giá của các NHTM trong năm 2006 đã chỉ ra rằng, trong số các ngoại tệ chủ yếu mà các NHTM kinh doanh thì đồng USD là đồng tiền có mức độ rủi ro thấp, với hệ số 0,13%, tiếp theo sau là đồng HKD, với độ rủi ro là 0,14%. Đồng AUD là đồng tiền có mức độ rủi ro cao nhất 2,75%.

Tuy nhiên, số liệu cũng cho thấy các ngoại tệ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện thông qua hệ số tương quan của VND với các ngoại tệ. Đồng USD là đồng tiền có hệ số tương quan thấp nhất so với các đồng EUR, JPY, GBP, AUD, CAD… nhưng lại có hệ số tương quan tương đối cao so với đồng HKD, với hệ số 0,81%. Ngược lại, đồng JPY có hệ số tương quan cao với tất cả các đồng tiền, trừ đồng CAD, HKD.

Ngoài ra, sự biến động tỷ giá của đồng USD/GBP phản ánh mối quan hệ tương quan nghịch, tức là hệ số tương quan giữa USD, GBP và VND bằng -0,12. Tức là nếu đồng USD tăng giá thì đồng GBP sẽ giảm giá và ngược lại. Như vậy, thông qua số liệu phân tích hệ số tương quan có thể thấy để giảm bớt những rủi ro trong kinh doanh, ngân hàng cần duy trì trạng thái trường (mua) đối với USD và trạng thái đoản (bán) đối với JPY.

Trong năm 2007, sự biến động tỷ giá cho thấy các hệ số tương quan của đồng VND với các đồng tiền chủ yếu ở mức thấp. Đồng USD vẫn là đồng tiền có hệ số tương quan thấp nhất so với các đồng tiền còn lại, cùng với đồng HKD. Tuy nhiên, đồng USD có hệ số tương quan nghịch với đồng EUR, AUD và đồng SGD.

Điều này cho thấy những biến động tỷ giá giữa các đồng tiền này ngược chiều nhau. Đồng EUR có hệ số tương quan tương đối cao so với các đồng tiền khác, tiếp theo là đồng AUD. Xét về mức độ rủi ro, trong năm 2007, kinh doanh đồng SGD vẫn là đồng tiền có độ rủi ro thấp nhất, tiếp theo là đồng USD. Đồng AUD là đồng tiền có độ rủi ro cao nhất, theo sau là đồng Bạt Thái Lan (THB) với độ rủi ro lần lượt là 3,47% và 3,3%. Tuy nhiên, doanh số mua bán của các đồng tiền này chiếm tỷ trọng nhỏ. Vì vậy, các ngân hàng có thể giảm thiểu những rủi ro khi kinh doanh các đồng tiền này.

Năm 2008, do sự biến động của tỷ giá, hầu hết các đồng tiền biến động lớn, vì vậy, mức độ rủi ro khi kinh doanh ngoại tệ gia tăng. Bằng chứng là độ lệch tiêu chuẩn của đồng EUR tăng gần 324%, đồng JPY tăng hơn 114% lần và đồng USD cũng hơn 283%.

Nguyên nhân những biến động lớn của tỷ giá các đồng tiền là do mức độ tự do hóa các giao dịch vốn tương đối cao, do biến động của các luồng vốn đầu tư, đặc biệt là luồng vốn gián tiếp đã ảnh hưởng mạnh tới cung cầu ngoại tệ và tỷ giá. Trong năm 2008, luồng vốn đầu tư gián tiếp đã liên tục biến động, khiến cho cung cầu ngoại tệ mất cân đối. Luồng vốn này gia tăng đáng kể trong ba tháng đầu năm năm 2008, gây áp lực tăng giá VND.

Sau đó, khi tình hình kinh tế thế giới tiếp tục khó khăn, kinh tế trong nước đối mặt với lạm phát, nhập siêu tăng cao thì đồng VND có dấu hiệu giảm giá làm tăng cầu ngoại tệ. Những biến động khó lường của kinh tế và thị trường tài chính thế giới cũng như trong nước đã ảnh hưởng tiêu cực tới cân bằng cung cầu ngoại tệ trong nước và đã tác động lên tỷ giá.

Thời kỳ 2009 - 2010, mức độ rủi ro của các ngoại tệ giảm dần, trừ đồng HKD có mức độ rủi ro gia tăng trong năm 2010. Như vậy, khi xem xét mức độ rủi ro các ngoại tệ mà các NHTM kinh doanh cho thấy, đồng USD là đồng tiền có doanh số mua bán lớn nhất so với các đồng tiền khác lại có độ rủi ro thấp nhất trong các giao dịch của ngân hàng. Đồng EUR, JPY có độ rủi ro tương đối cao. Ngoài ra, các đồng GBP, AUD cũng duy trì hệ số rủi ro lớn.


Việc đánh giá rủi ro đối với từng ngoại tệ riêng lẻ tức là xem xét trạng thái mở đối với từng ngoại tệ thì rủi ro ngoại hối bị cường điệu hóa hơn nhiều. Bởi vì sự thay đổi tỷ giá giữa các ngoại tệ có mối quan hệ nghịch. Do đó, lợi nhuận từ việc duy trì trạng thái mở đối với đồng tiền này có thể bù đắp sự thua lỗ do duy trì trạng thái mở đối với đồng tiền kia. Vì vậy, đánh giá rủi ro kinh doanh ngoại tệ cần tính chung cho cả danh mục ngoại tệ.

Nghiên cứu sự biến động của 3 đồng ngoại tệ mạnh USD, EUR, JPY có thể thấy được những tác động của sự thay đổi tỷ giá cũng như những rủi ro khi kinh doanh 3 đồng ngoại tệ này của Vietcombank. Mức độ rủi ro khi kinh doanh 3 đồng ngoại tệ này ở mức cao, đạt 0,466% vào năm 2010. Nguyên nhân dẫn tới gia tăng rủi ro của các đồng tiền mạnh là do năm 2010, tỷ giá các đồng USD, JPY tăng giá. (Có những thời điểm như ngày 9/7/2010, tỷ giá JPY/VND đã tăng khoảng 8% so với thời điểm 31/12/2009). Các yếu tố trên đã tác động đến biến động tỷ giá của Vietcombank, gây ra những rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng này.

Giải pháp giảm thiểu rủi ro

Từ việc đánh giá mức độ rủi ro trên, để giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh ngoại tệ cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, các NHTM cần xây dựng mô hình quản lý dữ liệu tập trung nhằm kiểm soát trực tuyến trạng thái ngoại hối của các chi nhánh, tập trung thống nhất luồng tiền, trạng thái các loại ngoại tệ kinh doanh, trạng thái tài khoản Nostro, dữ liệu khách hàng, góp phần tăng hiệu quả kinh doanh, hạn chế rủi ro xuống mức thấp nhất có thể.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại bắc ninh
Thứ hai, các NHTM cần xây dựng mô hình kinh doanh ngoại tệ tập trung, các hoạt động kinh doanh ngoại tệ bán buôn chỉ thực hiện tại các chi nhánh lớn hàng đầu như các Sở giao dịch. Các chi nhánh khác chỉ thực hiện nghiệp vụ thu đổi ngoại tệ, kinh doanh bán lẻ tức là chỉ thực hiện mua bán ngoại tệ với số lượng hạn chế nhất định.

Thứ ba, việc xây dựng mô hình quản lý phân cấp rõ ràng giữa các bộ phận thực hiện giao dịch trực tiếp và bộ phận quản lý rủi ro. Xây dựng mô hình kinh doanh ngoại tệ gồm ba bộ phận là bộ phận trực tiếp thực hiện giao dịch (Front Office), bộ phận kiểm soát và quản lý rủi ro (Middle Office) và bộ phận xử lý giao dịch (Back Office). Sự độc lập giữa bộ phận thực hiện giao dịch và bộ phận quản lý rủi ro sẽ làm giảm bớt rủi ro do nguyên nhân chủ quan của cán bộ trực tiếp giao dịch ngoại hối.

dịch vụ chữ ký số tại quận long biên Thứ tư, các NHTM phải thường xuyên xây dựng các báo cáo đánh giá về tình hình hoạt động kinh doanh của các đối tác chiến lược, khách hàng chủ đạo, các đối thủ cạnh tranh để làm căn cứ cho việc thực hiện các giao dịch kinh doanh ngoại hối tránh rủi ro trong thanh toán.

Thứ năm, xây dựng quy trình kinh doanh ngoại hối bài bản, cho phép quản lý rủi ro trong các giao dịch kinh doanh ngoại tệ.

Thứ sáu, các NHTM cần xây dựng hệ thống các hạn mức và các báo cáo phân tích ngoại hối như hạn mức giao trong ngày, hạn chức trạng thái qua đêm, hạn mức đối với các trạng thái ứng với các kỳ hạn 1 tuần, 2 tuần... 1 tháng, 2 tháng, hạn mức giao dịch của khách hàng, hạn mức điểm dừng lỗ… nhằm hạn chế rủi ro trong kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận long biên Theo tapchitaichinh
[Read More...]


Tín hiệu để tiến chắc hơn



Tỷ lệ vốn đầu tư phát triển toàn xã hội/GDP 6 tháng năm nay thấp hơn, trong khi tăng trưởng GDP tương đương cùng kỳ năm trước, nên đây là tín hiệu khả quan cho biết hiệu quả đầu tư có thể khá hơn. Đây cũng là điểm nổi bật cần phát huy khai thác để vừa tăng trưởng cao hơn, vừa có chất lượng và bền vững hơn.

LƯỢNG VỐN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN TOÀN XÃ HỘI 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2013 (Nghìn tỷ đồng)

Tăng trưởng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có vốn đầu tư, bởi đầu tư là yếu tố vật chất trực tiếp tác động đến tốc độ tăng trưởng và hiệu quả đầu tư tác động đến chất lượng tăng trưởng.
Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội /GDP đạt 29,6%, vừa thấp hơn cùng kỳ năm trước (khoảng 31%), vừa thấp hơn kế hoạch năm nay (30%). Có 3 điểm đáng lưu ý. Điểm lưu ý thứ nhất, tỷ lệ thấp này xuất phát từ tư duy tập trung cho mục tiêu ưu tiên là ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, không chạy theo tốc độ tăng trưởng nóng. Điểm lưu ý thứ hai, tỷ lệ thấp như trên đã góp phần làm cho lạm phát thấp hơn cùng kỳ năm trước. Điểm đáng lưu ý thứ ba, tỷ lệ thấp đó cũng là một trong những yếu tố làm cho tăng trưởng GDP năm nay thấp hơn cùng kỳ năm trước, nhất là hai nhóm ngành kinh tế thực (nông, lâm nghiệp- thủy sản và công nghiệp- xây dựng).

So với cùng kỳ năm trước, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tính theo giá thực tế tăng 5,9%. Nếu loại trừ yếu tố giá thì vốn đầu tư 6 tháng năm nay còn bị giảm so với cùng kỳ năm trước.

Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội có từ 3 nguồn: khu vực nhà nước, khu vực ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Nguồn vốn từ khu vực nhà nước tính theo giá thực tế tăng thấp (3,5%), do vậy, tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 6 tháng năm nay đã giảm xuống so với cùng kỳ năm trước (37% so với 37,9%).

Trong nguồn vốn này có vốn từ ngân sách nhà nước. Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước đạt còn thấp so với kế hoạch năm (44%) và giảm 1,9% so với cùng kỳ năm trước; nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì còn giảm sâu hơn. Nguyên nhân là do việc triển khai thực hiện vẫn chưa thoát khỏi tình trạng đầu năm thường chậm; do ngân sách còn gặp khó khăn; do nợ cũ đối với khối lượng đã hoàn thành còn lớn, do thực hiện chủ trương xã hội hóa... Trong đó, vốn trung ương quản lý còn đạt thấp hơn (41,4%) và giảm sâu hơn nữa (giảm 11,2%).

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại minh khai hai bà trưng Nguồn vốn ngoài nhà nước tính theo giá thực tế có tốc độ tăng cao nhất (9,9%), nhờ vậy tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đã tăng lên (từ 36,1% lên 37,5%, cao nhất trong 3 nguồn). Tuy tính theo giá thực tế thì tăng, nhưng nếu loại trừ yếu tố tăng giá, thì vẫn còn bị giảm. Nguyên nhân chủ yếu do khu vực này có tâm lý chờ đợi, hoặc do nợ xấu, tồn kho cao, nên khó tiếp cận vốn vay và chưa dám đầu tư.

Nguồn vốn FDI tăng 3,9% (tính theo mức chuyển vào). Nguồn FDI trong 6 tháng có 3 điểm nổi bật. Sau nhiều năm bị giảm liên tục, 6 tháng năm nay đã tăng lên cả về tổng vốn đăng ký (đạt gần 10,5 tỷ USD, tăng 15,9%) cả về vốn đăng ký mới (đạt trên 5,8 tỷ USD, tăng 3,7%), cả về lượng vốn tăng thêm của các dự án cũ (đạt gần 4,7 tỷ USD, tăng tới 35,8%). Cơ cấu vốn đăg ký đã tập trung cao cho công nghiệp chế biến (88,9%); ngoài ra có bất động sản (chiếm 4%) và các ngành còn lại (7,5%). Lượng vốn thực hiện tăng khá (đạt 5,7 tỷ USD, tăng 5,6%). Đây là xu hướng tích cực, góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, tăng dự trữ ngoại hối, ổn định tỷ giá. Điều này, cùng với lượng ngoại tệ từ các nguồn khác, có thể làm cơ sở cho dự báo đợt tăng nóng tỷ giá lần này, cũng giống như 2 lần tăng từ đầu năm đến nay, sẽ chỉ là tạm thời.

dịch vụ chữ ký số tại bắc ninh Tỷ lệ vốn đầu tư phát triển toàn xã hội/GDP 6 tháng năm nay thấp hơn, trong khi tăng trưởng GDP tương đương cùng kỳ năm trước, nên đây là tín hiệu khả quan cho biết hiệu quả đầu tư có thể khá hơn. Tuy nhiên đây cũng là điểm nổi bật cần phát huy khai thác để vừa tăng trưởng cao hơn, vừa có chất lượng và bền vững hơn.

Vấn đề đặt ra là cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện vốn đầu tư từ ngân sách kể cả nguồn vốn ODA, xử lý nhanh hơn nợ xấu, nhất là nợ xây dựng cơ bản và coi đây là vốn mồi để thu hút các nguồn vốn khác.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hà đông Theo chinhphu


[Read More...]


Điều kiện niêm yết cổ phiếu của công ty sau sáp nhập



Từ ngày 15-7 tới, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước sẽ thực hiện một số quy định mới về điều kiện niêm yết chứng khoán của công ty cổ phần hình thành sau quá trình hợp nhất, sáp nhập DN tại Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.

Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường- Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Nguyễn Sơn cho biết, đó là nhằm tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp luật đối với lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán.

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại minh khai hai bà trưng Cụ thể, theo quy định của Bộ Tài chính tại Thông tư số 73/2013/TT-BTC ngày 29-5-2013 hướng dẫn chi tiết một số điều về niêm yết chứng khoán tại Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20-7-2012 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán, kể từ ngày 15- 7, các trường hợp công ty nhận sáp nhập và bị sáp nhập phải đều là công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán (Sở GDCK) TP.Hồ Chí Minh.

Trên cơ sở đó, công ty hình thành sau sáp nhập mới được thực hiện thay đổi niêm yết tại Sở GDCK TP.Hồ Chí Minh. Tương tự, công ty nhận sáp nhập là công ty niêm yết trên Sở GDCK Hà Nội, công ty bị sáp nhập là công ty niêm yết trên Sở GDCK mới được thực hiện thay đổi niêm yết tại Sở GDCK Hà Nội. Trong khi đó, so với quy định trước đây thì các DN đang niêm yết trên Sở GDCK nhận sáp nhập các DN chưa niêm yết trên Sở GDCK chỉ cần tiến hành thay đổi đăng ký niêm yết.

Ngoài ra, theo quy định của Bộ Tài chính, Công ty bị sáp nhập phải đáp ứng điều kiện có ít nhất 1 năm hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần tính đến thời điểm công ty hình thành sau sáp nhập được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) năm liền trước năm sáp nhập tối thiểu là 5%; không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên 1 năm, không có lỗ lũy kế tính đến thời điểm sáp nhập; tuân thủ các quy định của pháp luật về kế toán báo cáo tài chính.

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận long biên Trường hợp công ty bị sáp nhập không đáp ứng được điều kiện trên, thì phải có tỷ lệ ROE trên báo cáo tài chính hợp nhất năm được kiểm toán hoặc báo cáo tài chính hợp nhất bán niên được kiểm toán (lập ngay sau thời điểm sáp nhập) của công ty hình thành sau sáp nhập tối thiểu là 5% hoặc có tỷ lệ ROE dương trên báo cáo tài chính hợp nhất năm được kiểm toán (lập ngay sau thời điểm sáp nhập) và lớn hơn tỷ lệ ROE trên báo cáo tài chính năm gần nhất được kiểm toán của công ty nhận sáp nhập.

Đồng thời, số cổ phiếu phát hành thêm (tương ứng với số vốn của công ty bị sáp nhập) chỉ được niêm yết bổ sung sau 1 năm kể từ thời điểm công ty hình thành sau sáp nhập được cấp giấy chứng nhận kinh doanh.

Bên cạnh đó, những trường hợp công ty nhận sáp nhập và bị sáp nhập đều không phải là công ty niêm yết, công ty hình thành sau sáp nhập phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện như công ty mới đăng ký niêm yết cổ phiếu lần đầu.
dịch vụ chữ ký số tại thanh xuân Theo baohaiquan


[Read More...]


Hàng chuyển cửa khẩu được quản lý chặt chẽ hơn



Hàng hoá xuất khẩu chuyển cửa khẩu là hàng hoá xuất khẩu đang chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan, được vận chuyển từ địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu, địa điểm kiểm tra hàng hóa ở nội địa đến cửa khẩu xuất. Hàng hoá nhập khẩu chuyển cửa khẩu là hàng hoá nhập khẩu đang chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan, được vận chuyển từ cửa khẩu nhập đến địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu, địa điểm kiểm tra hàng hóa ở nội địa.

Tại Khoản 3, Điều 18, Nghị định số 154/2005/NĐ-CP của Chính phủ quy định rõ những đối tượng và điều kiện hàng hóa được chuyển cửa khẩu. Tuy nhiên, trong thực tế thực hiện quy định này vẫn còn nhiều khó khăn đối với cả DN và cơ quan Hải quan. Giải quyết rốt ráo và minh bạch vấn đề này là mong mỏi của CBCC hải quan và DN trước thời điểm ban hành thông tư sửa đổi Thông tư 194/2010/TT-BTC ngày 6-12-2010 của Bộ Tài chính.

Cụ thể, với mặt hàng hạt nhựa là nguyên liệu sản xuất có mức thuế suất thuế nhập khẩu 0%, được DN mở tờ khai tại chi cục hải quan ngoài cửa khẩu. Theo Khoản 3, Điều 18 Nghị định 154 dẫn trên “Nguyên liệu, vật tư, linh kiện, phụ tùng sản xuất được đưa về địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu, địa điểm kiểm tra hàng hoá ở nội địa nơi có nhà máy, cơ sở sản xuất”. Như vậy, để được mở tờ khai ở chi cục hải quan thì các DN nhập khẩu mặt hàng hạt nhựa nguyên liệu phải đáp ứng điều kiện có nhà máy, cơ sở sản xuất.

Nhưng khi cơ quan Hải quan cửa khẩu kiểm tra đăng ký kinh doanh thì nhiều DN chỉ có chức năng bán buôn hạt nhựa, không có cơ sở sản xuất sử dụng nguyên liệu hạt nhựa này, cũng không xuất trình được quyết định công nhận địa điểm kiểm tra hàng hóa. Với trường hợp này DN phải hủy tờ khai và mở lại tờ khai tại chi cục hải quan cửa khẩu. Khi đó sẽ có ý kiến cho rằng đơn vị Hải quan cửa khẩu cố tình gây khó dễ, đòi hỏi thêm giấy tờ trong hồ sơ hải quan… Nhưng giả sử, nếu lô hàng đó thuộc diện miễn kiểm tra, sau khi thông quan bị cơ quan chức năng khác kiểm tra trong các container hàng trên không phải hạt nhựa mà chứa hàng hóa khác thì Hải quan cửa khẩu có tránh được trách nhiệm liên đới (?)

Trường hợp khác là các lô hàng sản phẩm hoàn chỉnh như gạch ốp lát, chuông cửa, gỗ ván sàn, điều hòa trung tâm, thiết bị nhà bếp… cung cấp cho các dự án đầu tư không thuộc diện được miễn thuế nhập khẩu do các nhà thầu phụ mở tờ khai nhập khẩu. Thông thường Hải quan ngoài cửa khẩu chỉ căn cứ vào hợp đồng ký giữa nhà thầu chính và nhà thầu phụ để mở tờ khai.

Các nhà thầu phụ thường là đơn vị chuyên cung cấp, lắp đặt các hạng mục hoàn thiện nội thất, cũng như các công ty XNK khác có chức năng bán buôn các sản phẩm nội thất cho các công trình; loại hình nhập khẩu là nhập kinh doanh, đầu tư- kinh doanh hoặc đầu tư nộp thuế. Thực tế hiện nay cơ quan Hải quan không có cơ sở theo dõi số lượng, hạn mức, cũng như không có căn cứ xác định số hàng hóa nhập khẩu bán ra thị trường hay cung cấp cho công trình nào, hoặc công trình nào đã hoàn thành, không còn nhu cầu nhập khẩu… vấn đề này tiềm ẩn nhiều hậu quả khó lường, nhất là xu hướng tỷ lệ miễn kiểm tra thực tế hàng hóa ngày càng gia tăng. Nên chăng là loại hợp đồng này cũng cần được cấp có thẩm quyền phê duyệt, kèm danh mục hàng, hạn mức, số lượng để trừ lùi.

Để tăng cường công tác quản lý, vừa qua Tổng cục Hải quan đã có công văn số 3140/TCHQ-GSQL ngày 7-6-2013 để chỉ đạo, nội dung tăng cường trách nhiệm cho các đơn vị hải quan nơi mở tờ khai, đồng thời yêu cầu đơn vị hải quan cửa khẩu có sự phối hợp tốt hơn trong giải quyết hàng chuyển cửa khẩu. Tuy nhiên, hiện trạng làm thủ tục hải quan hiện nay là hệ thống thông quan điện tử không có cơ sở dữ liệu phân tích, cho kết quả lô hàng nào không thuộc đối tượng chuyển cửa khẩu để tự động từ chối không ra số tờ khai.

Trong khi nhận thức của nhiều DN chưa thấu đáo, thiết nghĩ các đơn vị Hải quan (cả cửa khẩu và ngoài cửa khẩu) cần giải thích rõ để DN hiểu quy định. Mặt khác các đơn vị Hải quan cửa khẩu cũng cần cương quyết không làm thủ tục cho các lô hàng chuyển khẩu chưa đúng đối tượng, kể cả khi DN đã kê khai nộp thuế cho lô hàng tại đơn vị Hải quan ngoài cửa khẩu.

Còn nhớ trong những năm 1990, trước sự bùng phát của nhu cầu tiêu dùng và thị trường hàng hóa, nên đã có qui định cho phép các DN thương mại được làm thủ tục cho tất cả các mặt hàng tại chi cục hải quan ngoài cửa khẩu. Rồi sau đó đã xảy ra vụ án Tân Trường Sanh (xảy ra giai đoạn 1994-1997). Do sự bất cẩn trong quản lý, tắc trách và cả thông đồng của một số công chức, đã có hàng hóa thẩm lậu vào nội địa, gây hậu quả lớn. Ngành Hải quan đã phải trả giá đắt về vấn đề này…

Học kế toán tổng hợp thực hành Tại long biên Để tạo điều kiện tốt nhất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN, đồng thời góp phần ngăn ngừa các hành vi lợi dụng sơ hở để nảy sinh hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại, cả phía DN và cán bộ công chức hải quan kỳ vọng những nội dung cụ thể nêu trên được cụ thể hóa và phân định trách nhiệm minh bạch trong Thông tư sửa đổi Thông tư 194/2010/TT-BTC ngày 6-12- 2010 của Bộ Tài chính cũng như được giải đáp thỏa đáng ở các văn bản hướng dẫn của Tổng cục Hải quan.

Khoản 3, Điều 18 Nghị định 154 quy định:

Hàng hoá nhập khẩu được chuyển cửa khẩu gồm:

a) Thiết bị, máy móc, vật tư nhập khẩu để xây dựng nhà máy, công trình được đưa về địa điểm kiểm tra hàng hoá ở nội địa là chân công trình hoặc kho của công trình;

b) Nguyên liệu, vật tư, linh kiện, phụ tùng sản xuất được đưa về địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu, địa điểm kiểm tra hàng hoá ở nội địa nơi có nhà máy, cơ sở sản xuất;

c) Hàng hoá nhập khẩu của nhiều chủ hàng có chung một vận tải đơn được đưa về địa điểm kiểm tra hàng hoá ở nội địa;

dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại thanh trì d) Hàng hoá tạm nhập để dự hội chợ, triển lãm được chuyển cửa khẩu từ cửa khẩu nhập về địa điểm tổ chức hội chợ, triển lãm; hàng hoá dự hội chợ, triển lãm tái xuất được chuyển cửa khẩu từ địa điểm tổ chức hội chợ, triển lãm ra cửa khẩu xuất;

đ) Hàng hoá nhập khẩu vào cửa hàng miễn thuế được chuyển cửa khẩu về cửa hàng miễn thuế;

e) Hàng hoá nhập khẩu đưa vào kho ngoại quan được phép chuyển cửa khẩu từ cửa khẩu nhập về kho ngoại quan; hàng hoá gửi kho ngoại quan xuất khẩu được chuyển cửa khẩu từ kho ngoại quan ra cửa khẩu xuất;

g) Hàng hoá nhập khẩu của doanh nghiệp chế xuất trong khu chế xuất được chuyển cửa khẩu từ cửa khẩu nhập về khu chế xuất; hàng hoá xuất khẩu của doanh nghiệp chế xuất trong khu chế xuất được chuyển cửa khẩu từ khu chế xuất ra cửa khẩu xuất.
dịch vụ chữ ký số tại hải phòng Theo baohaiquan


[Read More...]


TRUNG TÂM KẾ TOÁN HÀ NỘI

Return to top of page