You are here: »
Home » All posts
TSCĐ không dùng đến hoặc sử dụng không có hiệu quả thường được đem nhượng bán hoặc thanh lý. Vậy khi có nhu cầu nhượng bán, thanh lý TSCĐ thì hạch toán như thế nào?
1. Khi cần thanh lý tài sản cố định đã hết khấu hao các bạn cần làm các thủ tục sau:
– Thành lập Hội đồng thanh lý TSCĐ.
– Biên bản họp hội đồng thanh lý TSCĐ.
– Quyết định Thanh lý TSCĐ.
– Biên bản kiêm kê tài sản cố định
– Biên bản đánh giá lại TSCĐ
– Biên bản thanh lý TSCĐ
– Hợp đồng kinh tế bán TSCĐ được thanh lý.
– Hóa đơn bán TSCĐ
– Biên bản giao nhận TSCĐ
– Biên bản hủy tài sản cố định
– Thanh lý hợp đồng kinh tế bán TSCĐ.
2. Căn cứ vào biên bản giao nhận TSCĐ, hóa đơn và các chứng từ liên quan đến nhượng bán TSCĐ các bạn hạch toán nhượng bán TSCĐ như sau:
a. Nếu nhượng bán TSCĐ dùng vào sản xuất, kinh doanh:
- Phản ánh doanh thu:
+/ Nếu DN kê khai thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ:
Nợ các TK 111, 112, 131,. . .
Có TK 3331 - Thuế giá trị gia tăng phải nộp (33311)
Có TK 711 - Thu nhập khác (Giá bán chưa có thuế GTGT).
+/ Nếu DN kê khai thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp:
Nợ các TK 111, 112, 131,. . .
Có TK 711 - Thu nhập khác (Tổng giá thanh toán).
- Ghi giảm TSCĐ đã nhượng bán:
Nợ TK 214 - Hao mòn TSCĐ (2141) (Giá trị đã hao mòn)
Nợ TK 811 - Chi phí khác (Giá trị còn lại)
Có TK 211 - TSCĐ hữu hình (Nguyên giá).
- Các chi phí phát sinh liên quan đến nhượng bán TSCĐ được phản ánh vào bên Nợ TK 811 “Chi phí khác”.
b. Nếu nhượng bán TSCĐ dùng vào hoạt động sự nghiệp, dự án:
- Ghi giảm TSCĐ đã nhượng bán:
Có TK 466 - Nguồn kinh phí đã hình thành TSCĐ (Giá trị còn lại)
Nợ TK 214 - Hao mòn TSCĐ (Giá trị đã hao mòn)
Có TK 211 - TSCĐ hữu hình (Nguyên giá).
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại bắc ninh
- Số tiền thu, chi liên quan đến nhượng bán TSCĐ hữu hình ghi vào các tài khoản liên quan theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.
c. Nếu nhượng bán TSCĐ dùng vào hoạt động văn hóa, phúc lợi:
- Ghi giảm TSCĐ đã nhượng bán:
Nợ TK 431 - Quỹ khen thưởng, phúc lợi (4313) (Giá trị còn lại)
Nợ TK 214 - Hao mòn TSCĐ (Giá trị đã hao mòn)
Có TK 211 - TSCĐ hữu hình (Nguyên giá).
- Phản ánh doanh thu nhượng bán TSCĐ:
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hà đông
Nợ các TK 111, 112,. . .
Có TK 431 - Quỹ khen thưởng, phúc lợi (4312)
Có TK 333 - Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước (3331) (Nếu có).
- Phản ánh số chi về nhượng bán TSCĐ:
Nợ TK 431 - Quỹ khen thưởng, phúc lợi (4312)
Có các TK 111, 112,. . .
dịch vụ chữ ký số tại quận hoàn kiếm
Tổng hợp
[Read More...]
Tài khoản kế toán là phương tiện để phản ánh các Nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo từng đối tượng kế toán riêng biệt. Một doanh nghiệp bình thường sử dụng rất nhiều tài khoản kế toán khác nhau, tạo nên một hệ thống tài khoản kế toán.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại bắc ninh
Theo thông tư 200/2014/TT-BTC: DANH MỤC HỆ THỐNG TÀI KHOẢN KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP bao gồm:
Chú ý:
dịch vụ chữ ký số tại quận đống đa
- Doanh nghiệp căn cứ vào hệ thống tài khoản kế toán của Chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành kèm theo Thông tư 200 này để vận dụng và chi tiết hoá hệ thống tài khoản kế toán phù hợp với đặc điểm sản xuất, kinh doanh, yêu cầu quản lý của từng ngành và từng đơn vị, nhưng phải phù hợp với nội dung, kết cấu và phương pháp hạch toán của các tài khoản tổng hợp tương ứng.
- Trường hợp doanh nghiệp cần bổ sung tài khoản cấp 1, cấp 2 hoặc sửa đổi tài khoản cấp 1, cấp 2 về tên, ký hiệu, nội dung và phương pháp hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đặc thù phải được sự chấp thuận bằng văn bản của Bộ Tài chính trước khi thực hiện.
c) Doanh nghiệp có thể mở thêm các tài khoản cấp 2 và các tài khoản cấp 3 đối với những tài khoản không có qui định tài khoản cấp 2, tài khoản cấp 3 tại danh mục Hệ thống tài khoản kế toán doanh nghiệp quy định tại phụ lục 1 - Thông tư 200 nhằm phục vụ yêu cầu quản lý của doanh nghiệp mà không phải đề nghị Bộ Tài chính chấp thuận.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận long biên
Tổng hợp
[Read More...]
“Để nâng cao chất lượng báo cáo tài chính (BCTC), mấu chốt là ở ý thức của doanh nghiệp. Chỉ khi doanh nghiệp mong muốn trình bày BCTC trung thực, minh bạch, không phục vụ mục đích riêng mà hướng tới sự phát triển bền vững, an toàn tài chính, bảo toàn vốn thì chất lượng BCTC mới được cải thiện căn bản”. Đó là ý kiến của ông Trịnh Đức Vinh - Phó Vụ trưởng Vụ Chế độ kế toán và kiểm toán, Bộ Tài chính trong cuộc trao đổi với phóng viên Tạp chí Chứng khoán xung quanh chủ đề làm thế nào để nâng cao chất lượng BCTC.
Có ý kiến cho rằng, các bất cập và độ minh bạch trong BCTC của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn là “điểm trừ” trong bức tranh chung về thị trường tài chính thời gian gần đây. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?
Hiện nay, BCTC của các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng trở nên trung thực và minh bạch hơn do các quy định của Nhà nước ngày càng rõ ràng và tiếp cận dần tới chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Đặc biệt BCTC của các doanh nghiệp sau khi đã được kiểm toán thì độ rủi ro đã được hạn chế một phần thông qua quá trình soát xét của các doanh nghiệp kiểm toán (DNKT).
Tuy nhiên, không thể nói là BCTC của các doanh nghiệp Việt Nam đã hoàn hảo và không có vấn đề gì, việc cố tình “bóp méo” BCTC đâu đó vẫn diễn biến phức tạp theo cả 2 xu hướng lãi giả - lỗ thật và lỗ giả - lãi thật, tùy thuộc vào mục đích của lãnh đạo doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoặc các công ty niêm yết thông thường họ có xu hướng làm đẹp BCTC, nghĩa là họ muốn giấu lỗ. Sở dĩ có câu chuyện này là bởi việc làm đẹp BCTC tại các DNNN sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi và “ghế” của các vị lãnh đạo doanh nghiệp do có sự xếp loại A, B, C.
Khi doanh nghiệp bị lỗ 2 năm liên tục thì “ghế” các vị lãnh đạo DNNN sẽ lung lay, lương, thưởng của ban điều hành bị giảm. Còn đối với các công ty cổ phần, công ty đại chúng đặc biệt là các công ty niêm yết do chịu áp lực từ cổ đông, do muốn nâng đỡ giá cổ phiếu nên BCTC cũng phải “đẹp”.
Mặt khác, nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp Việt Nam rất lớn và không ai muốn cho các doanh nghiệp có BCTC xấu vay cả. Các đối tượng này thường có xu hướng muốn giấu lỗ, sẵn sàng hy sinh lợi ích về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), tức là chấp nhận lỗ nhưng vẫn nộp thuế TNDN để đạt được các mục đích khác.
Tương tự, các doanh nghiệp có ý định niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán cũng vậy, do một trong những điều kiện để được niêm yết là phải có lãi 2 năm liên tục trước khi lên sàn nên các doanh nghiệp đó cũng muốn có một BCTC “đẹp”.
Một số những “chiêu” cơ bản của các doanh nghiệp để giấu lỗ là những khoản tổn thất thì họ lại ghi nhận vào mục chi phí trả trước để phân bổ dần, nghĩa là chi phí và những khoản tổn thất thật sự sẽ được “phanh lại” và treo trên Bảng cân đối kế toán thay vì ghi nhận như một khoản lỗ của Báo cáo kết quả kinh doanh, việc không trích lập đủ các khoản dự phòng, việc ghi nhận doanh thu khi chưa đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của Chuẩn mực kế toán…
Tất cả những ví dụ trên đều nhằm mục đích làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp dẫn đến BCTC bị bóp méo theo hướng lãi giả - lỗ thật.
Ngược lại, đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp gia đình, chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì mục đích của họ lại khác.
Do các doanh nghiệp này được sở hữu bởi một hoặc một số cá nhân, họ không cần nâng đỡ giá cổ phiếu, không sợ bị “mất ghế” nên mục đích của các doanh nghiệp này là làm sao có thể giảm được thuế nhiều nhất, vậy nên họ lại có xu hướng muốn giấu lãi bằng cách giấu doanh thu.
Ví dụ, nhiều doanh nghiệp bán hàng nhưng cố tình không xuất hóa đơn hoặc khi bị khách hàng yêu cầu xuất hóa đơn thì họ tìm nhiều lý do để trì hoãn làm cho những khách hàng là cá nhân thường không đủ kiên nhẫn rồi bỏ qua việc yêu cầu lấy hóa đơn.
Việc này nếu thực hiện trót lọt sẽ làm giảm thu nhập chịu thuế dẫn đến BCTC bị bóp méo theo xu hướng lỗ giả - lãi thật. Mặc dù ai cũng biết, nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp được xác định dựa trên các báo cáo thuế chứ không dựa trên BCTC, tuy nhiên BCTC lại là một trong những căn cứ quan trọng để lập nên báo cáo thuế nên nếu cơ quan thuế không kiểm tra được sự trung thực của BCTC thì khả năng rất cao là báo cáo thuế cũng bị sai lệch đáng kể.
Theo ông, nguyên nhân của hiện tượng sai lệch BCTC là do đâu và các cơ quan quản lý nhà nước cũng như bản thân các doanh nghiệp cần phải làm gì để nâng cao hơn nữa chất lượng BCTC?
Lý do sai sót trên BCTC thì có nhiều, có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, có thể là do gian lận và cũng có thể do sai sót vô ý.
Như tôi đã nói ở trên, nguyên nhân chủ yếu làm cho BCTC giảm bớt sự trung thực và minh bạch là do ý muốn chủ quan của doanh nghiệp, cố tình gian lận để trình bày BCTC theo mục đích riêng của từng doanh nghiệp, tức là muốn giấu lãi hoặc giấu lỗ.
Mặt khác, nghề kế toán là nghề của những con số nên khó tránh khỏi việc sai sót khi tính toán số liệu và nếu hệ thống kiểm soát nội bộ không làm hết trách nhiệm thì khả năng sai sót số liệu do tính toán là rất cao.
Ngoài ra, do một số quy định về pháp luật còn chưa thật sự rõ ràng, thậm chí có trường hợp còn có sự mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật nên gây khó khăn cho việc áp dụng hoặc có thể dẫn đến hiểu sai quy định của pháp luật.
Để nâng cao chất lượng BCTC, mấu chốt là ở ý thức của doanh nghiệp. Chỉ khi doanh nghiệp mong muốn trình bày BCTC trung thực, minh bạch, không phục vụ mục đích riêng mà hướng tới sự phát triển bền vững, an toàn tài chính, bảo toàn vốn thì chất lượng BCTC mới được cải thiện căn bản.
Điều này lý giải tại sao Chuẩn mực và thông lệ quốc tế luôn nhắc tới BCTC vì mục đích chung, phục vụ người đọc BCTC nói chung, phục vụ công chúng chứ không phải phục vụ mục đích của cá nhân doanh nghiệp. Nói cách khác, chỉ khi ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp được nâng cao thì BCTC mới đảm bảo độ tin cậy.
Vấn đề nguồn nhân lực cũng đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong công tác kế toán, lập và trình bày BCTC. Nếu bộ máy kế toán không đủ mạnh về chuyên môn, việc hiểu và diễn giải sai chính sách là điều có thể nhìn thấy trước. Vì vậy, các doanh nghiệp cần tăng cường công tác đào tạo nhân viên để có thể nâng cao năng lực, kịp thời cập nhật các quy định mới của pháp luật trong lĩnh vực tài chính.
Trước đây, các doanh nghiệp có tư duy lập BCTC là để phục vụ cho cơ quan thuế, nhưng nay các doanh nghiệp cần phải thay đổi tư duy nhận thức là BCTC phục vụ nhu cầu quản lý của chính các chủ sở hữu của doanh nghiệp đó.
Do có sự khác biệt giữa BCTC và báo cáo thuế nên nếu doanh nghiệp cố “nắn” BCTC theo báo cáo thuế thì trong một số trường hợp sẽ làm sai lệch số liệu kế toán do cơ sở ghi nhận kế toán và cơ sở tính thuế là khác nhau. Hãy coi cơ quan thuế là một đối tác, một người bạn, một chủ nợ của doanh nghiệp như bao chủ nợ khác.
Ngoài ra, chất lượng BCTC còn phụ thuộc vào các cơ quan nhà nước khi hoạch định chính sách. Đó là làm sao để chính sách càng ngày càng minh bạch để khi doanh nghiệp đọc một văn bản, họ không thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và diễn giải theo nhiều ý khác nhau.
Tóm lại, việc nâng cao chất lượng BCTC cũng giống như việc chống tham nhũng, phải làm sao cho doanh nghiệp “không thể, không dám và không muốn” làm sai lệch các BCTC. “Không thể” được nói ở góc độ chính sách minh bạch nên doanh nghiệp không thể tự ý bóp méo.
Doanh nghiệp “không dám” vì nếu bóp méo, xuyên tạc chính sách sẽ phải chịu những chế tài xử phạt nặng nề của pháp luật. “Không muốn” tức là nếu bóp méo BCTC thì danh tiếng của doanh nghiệp sẽ bị tổn hại vì khi đó sẽ làm mất uy tín của doanh nghiệp trên thị trường.
Như ông đã nói, BCTC cũng đã được hạn chế một phần rủi ro thông qua quá trình soát xét của các DNKT. Vậy ông có thể nói rõ hơn yếu tố nào ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của dịch vụ kiểm toán?
Có nhiều nguyên nhân làm hạn chế chất lượng dịch vụ kiểm toán và hầu hết là các nguyên nhân chủ quan.
Thứ nhất, do sự cạnh tranh gay gắt giữa các DNKT, phí kiểm toán thu được trong một số trường hợp không đủ bù đắp nổi chi phí cho cuộc kiểm toán. Để giảm bớt chi phí, các DNKT thường giảm bớt việc thu thập bằng chứng kiểm toán, không thực hiện đầy đủ các thủ tục kiểm toán, một số DNKT (tất nhiên không phải là quá phổ biến) thậm chí còn bán con dấu lấy tiền, tức là không hề thực hiện kiểm toán mà chỉ đóng dấu thu tiền.
Thứ hai, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam đều lập BCTC theo năm dương lịch, do đó mùa kiểm toán cũng phải chạy theo kỳ BCTC. Vào mùa, các DNKT thường quá tải, hầu hết các kiểm toán viên (KTV) đều phải làm việc đến khuya, lại phải phục vụ nhiều khách hàng làm cho sức khỏe KTV suy giảm, thời gian dành cho việc soát xét BCTC không nhiều, khó phát hiện ra những tình huống gian lận và sai sót trên BCTC.
Thứ ba, trình độ chuyên môn, năng lực của một số KTV chưa thật sự sắc sảo nên có thể bỏ sót một số tình huống mà bản thân các doanh nghiệp cố tình che giấu trên BCTC hoặc cũng có thể do một số quy định của pháp luật chưa thật sự rõ ràng, thậm chí có tình trạng mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật làm cho mỗi người hiểu mỗi khác. Nếu KTV không sắc sảo về chuyên môn có thể dẫn chiếu, vận dụng quy định của pháp luật một cách không phù hợp với hoàn cảnh và tình huống.
Thực tế trong những năm gần đây, hoạt động của các DNKT đã có nhiều tiến bộ. Một số chỉ tiêu chính của ngành kiểm toán đạt được đến nay như: Về số lượng khách hàng đạt khoảng 40.000; có trên 30 DNKT được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận kiểm toán cho đơn vị lợi ích công chúng; Doanh thu toàn ngành đạt xấp xỉ 5.000 tỷ đồng; Nộp ngân sách nhà nước trên 700 tỷ đồng.
Tính đến ngày 31/12/2014, có 10.866 người làm việc trong các DNKT, trong đó có 9.543 nhân viên chuyên nghiệp và 1.323 nhân viên khác. Đến ngày 15/4/2015, tổng số người được cấp chứng chỉ KTV là 3.496 người.
Mặc dù không tăng về số lượng nhưng quy mô doanh nghiệp cũng như năng lực chuyên môn và chất lượng dịch vụ kiểm toán hiện đã được cải thiện đáng kể. Nhiều DNKT có số lượng KTV lớn, KTV dày dạn kinh nghiệm đã tạo lập được vị thế và danh tiếng trên thị trường, được nhiều khách hàng lớn lựa chọn.
Khách hàng, đơn vị được kiểm toán đã thực hiện nghiêm túc hơn các nghĩa vụ trong quá trình cung cấp tài liệu, giải trình, phối kết hợp với KTV và DNKT trong quá trình kiểm toán để góp phần nâng cao chất lượng kiểm toán.
Thông qua các hoạt động dịch vụ kiểm toán và tư vấn tài chính, kế toán, các DNKT đã góp phần phổ cập cơ chế chính sách kinh tế, tài chính, góp phần thực hiện công khai, minh bạch BCTC của các doanh nghiệp, ngăn ngừa lãng phí, tham nhũng, phục vụ đắc lực cho công tác quản lý và điều hành kinh tế - tài chính của Nhà nước và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp.
Hoạt động kiểm toán độc lập (KTĐL) ngày càng khẳng định được vị trí trong nền kinh tế thị trường, được các doanh nghiệp, tổ chức và xã hội thừa nhận và đã góp phần quan trọng trong việc làm lành mạnh hóa môi trường đầu tư và nền tài chính quốc gia.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại thái bình
Tất nhiên, ngoài những mặt tích cực, cũng còn một số hạn chế như: Một số hợp đồng kiểm toán BCTC của doanh nghiệp, tổ chức bắt buộc phải kiểm toán BCTC chưa được giao kết theo đúng quy định tại Khoản 2 Điều 9 Luật KTĐL; Chương trình đào tạo tại một số DNKT chưa đầy đủ, phù hợp và chưa được cụ thể cho từng cấp độ nhân viên, dẫn đến tình trạng nhân viên chưa nắm rõ, việc thực hiện qua hồ sơ kiểm toán còn mang tính hình thức, chưa theo đúng quy chế công ty quy định; Báo cáo phát hành ý kiến kiểm toán chưa phù hợp hoặc chưa thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán khi đưa ra ý kiến kiểm toán và còn có các sai sót trên BCTC đính kèm báo cáo kiểm toán (BCKT).
dịch vụ chữ ký số tại quận hai bà trưng
Mặt khác, một số DNKT chưa tiến hành kiểm tra, đánh giá chất lượng hợp đồng dịch vụ, chưa thực hiện việc công khai báo cáo minh bạch theo đúng quy định tại Khoản 1 Điều 16 Thông tư số 183/2013/TT-BTC ngày 04/12/2013 của Bộ Tài chính về KTĐL đối với đơn vị có lợi ích công chúng.
Một số DNKT chưa theo dõi một cách chặt chẽ về việc luân chuyển KTV ký BCKT đối với các khách hàng kiểm toán trên 03 năm; KTV vi phạm quy định về ký BCKT quá 03 năm liên tục cho một đơn vị được kiểm toán. Ngoài ra, có chi nhánh của DNKT không đăng ký kinh doanh dịch vụ kiểm toán và không đăng ký hành nghề kiểm toán với Bộ Tài chính nhưng vẫn ký hợp đồng kiểm toán với đơn vị được kiểm toán và có dấu hiệu các KTV có đăng ký hành nghề nhưng thực sự không hành nghề kiểm toán.
Xin trân trọng cảm ơn ông!
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hà đông
Theo Tạp chí Chứng khoán 6/2016
[Read More...]
Ông Nguyễn Sinh Viên (Hưng Yên) đang làm phụ trách kế toán trường học thuộc Phòng Giáo dục và Đào tạo của 1 huyện. Ông Viên hỏi, cấp nào có thẩm quyền bổ nhiệm ông làm kế toán trưởng của trường học?
Về vấn đề này, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hai bà trưng
Điểm c, Khoản 1, Điều 12 Thông tư liên tịch số 163/2013/TTLT-BTC-BNV quy định về thủ tục, thời hạn bổ nhiệm, bổ nhiệm lại kế toán trưởng, bố trí phụ trách kế toán đối với tổ chức có sử dụng ngân sách Nhà nước: "Đơn vị kế toán cấp II, III lập hồ sơ đề nghị bổ nhiệm kế toán trưởng trình cấp có thẩm quyền bổ nhiệm Phó Thủ trưởng đơn vị bổ nhiệm".
dịch vụ chữ ký số tại quận long biên
Trường hợp ông Viên hiện là kế toán của đơn vị kế toán trường học thuộc Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện, theo Thông tư liên tịch số 163/2013/TTLT-BTC-BNV cấp nào bổ nhiệm Phó Hiệu trưởng của trường thì cấp đó bổ nhiệm kế toán trưởng của trường.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại biên hòa
Theo Chinhphu
[Read More...]
Tài sản cố định là tư liệu sản xuất chuyên dùng trong sản xuất kinh doanh, có giá trị lớn và dùng được vào nhiều chu kì sản xuất. Theo quy định của nước ta hiện nay (thông tư 45/2013/TT-BTC) các tài sản có giá trị đơn vị từ 30 triệu đồng và thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên đủ điều kiện là TSCĐ. Điều 4 của thông tư cũng có hướng dẫn cách xác định nguyên giá của TSCĐ.
Cụ thể:
1. Cách xác định nguyên giá tài sản cố định hữu hình:
a) TSCĐ hữu hình mua sắm:
Nguyên giá TSCĐ hữu hình mua sắm (kể cả mua mới và cũ): là giá mua thực tế phải trả cộng (+) các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại), các chi phí liên quan trực tiếp phải chi ra tính đến thời điểm đưa tài sản cố định vào trạng thái sẵn sàng sử dụng như: lãi tiền vay phát sinh trong quá trình đầu tư mua sắm tài sản cố định; chi phí vận chuyển, bốc dỡ; chi phí nâng cấp; chi phí lắp đặt, chạy thử; lệ phí trước bạ và các chi phí liên quan trực tiếp khác.
+ Trường hợp TSCĐ hữu hình mua trả chậm, trả góp, nguyên giá TSCĐ là giá mua trả tiền ngay tại thời điểm mua cộng (+) các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại), các chi phí liên quan trực tiếp phải chi ra tính đến thời điểm đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng như: chi phí vận chuyển, bốc dỡ; chi phí nâng cấp; chi phí lắp đặt, chạy thử; lệ phí trước bạ (nếu có).
+ Trường hợp mua TSCĐ hữu hình là nhà cửa, vật kiến trúc gắn liền với quyền sử dụng đất thì giá trị quyền sử dụng đất phải xác định riêng và ghi nhận là TSCĐ vô hình nếu đáp ứng đủ tiêu chuẩn theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều này, còn TSCĐ hữu hình là nhà cửa, vật kiến trúc thì nguyên giá là giá mua thực tế phải trả cộng (+) các khoản chi phí liên quan trực tiếp đến việc đưa TSCĐ hữu hình vào sử dụng.
+ Trường hợp sau khi mua TSCĐ hữu hình là nhà cửa, vật kiến trúc gắn liền với quyền sử dụng đất, doanh nghiệp dỡ bỏ hoặc huỷ bỏ để xây dựng mới thì giá trị quyền sử dụng đất phải xác định riêng và ghi nhận là TSCĐ vô hình nếu đáp ứng đủ tiêu chuẩn theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều này; nguyên giá của TSCĐ xây dựng mới được xác định là giá quyết toán công trình đầu tư xây dựng theo quy định tại Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành. Những tài sản dỡ bỏ hoặc huỷ bỏ được xử lý hạch toán theo quy định hiện hành đối với thanh lý tài sản cố định.
b) TSCĐ hữu hình mua theo hình thức trao đổi:
Nguyên giá TSCĐ mua theo hình thức trao đổi với một TSCĐ hữu hình không tương tự hoặc tài sản khác là giá trị hợp lý của TSCĐ hữu hình nhận về, hoặc giá trị hợp lý của TSCĐ đem trao đổi (sau khi cộng thêm các khoản phải trả thêm hoặc trừ đi các khoản phải thu về) cộng (+) các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại), các chi phí liên quan trực tiếp phải chi ra đến thời điểm đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng, như: chi phí vận chuyển, bốc dỡ; chi phí nâng cấp; chi phí lắp đặt, chạy thử; lệ phí trước bạ (nếu có).
Nguyên giá TSCĐ hữu hình mua theo hình thức trao đổi với một TSCĐ hữu hình tương tự, hoặc có thể hình thành do được bán để đổi lấy quyền sở hữu một tài sản tương tự là giá trị còn lại của TSCĐ hữu hình đem trao đổi.
c) Tài sản cố định hữu hình tự xây dựng hoặc tự sản xuất:
Nguyên giá TSCĐ hữu hình tự xây dựng là giá trị quyết toán công trình khi đưa vào sử dụng. Trường hợp TSCĐ đã đưa vào sử dụng nhưng chưa thực hiện quyết toán thì doanh nghiệp hạch toán nguyên giá theo giá tạm tính và điều chỉnh sau khi quyết toán công trình hoàn thành.
Nguyên giá TSCĐ hữu hình tự sản xuất là giá thành thực tế của TSCĐ hữu hình cộng (+) các chi phí lắp đặt chạy thử, các chi phí khác trực tiếp liên quan tính đến thời điểm đưa TSCĐ hữu hình vào trạng thái sẵn sàng sử dụng (trừ các khoản lãi nội bộ, giá trị sản phẩm thu hồi được trong quá trình chạy thử, sản xuất thử, các chi phí không hợp lý như vật liệu lãng phí, lao động hoặc các khoản chi phí khác vượt quá định mức quy định trong xây dựng hoặc sản xuất).
d) Nguyên giá tài sản cố định hữu hình do đầu tư xây dựng:
Nguyên giá TSCĐ do đầu tư xây dựng cơ bản hình thành theo phương thức giao thầu là giá quyết toán công trình xây dựng theo quy định tại Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành cộng (+) lệ phí trước bạ, các chi phí liên quan trực tiếp khác. Trường hợp TSCĐ do đầu tư xây dựng đã đưa vào sử dụng nhưng chưa thực hiện quyết toán thì doanh nghiệp hạch toán nguyên giá theo giá tạm tính và điều chỉnh sau khi quyết toán công trình hoàn thành.
Đối với tài sản cố định là con súc vật làm việc và/ hoặc cho sản phẩm, vườn cây lâu năm thì nguyên giá là toàn bộ các chi phí thực tế đã chi ra cho con súc vật, vườn cây đó từ lúc hình thành tính đến thời điểm đưa vào khai thác, sử dụng.
đ) Tài sản cố định hữu hình được tài trợ, được biếu, được tặng, do phát hiện thừa:
Nguyên giá tài sản cố định hữu hình được tài trợ, được biếu, được tặng, do phát hiện thừa là giá trị theo đánh giá thực tế của Hội đồng giao nhận hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp.
e) Tài sản cố định hữu hình được cấp; được điều chuyển đến:
Nguyên giá TSCĐ hữu hình được cấp, được điều chuyển đến bao gồm giá trị còn lại của TSCĐ trên số kế toán ở đơn vị cấp, đơn vị điều chuyển hoặc giá trị theo đánh giá thực tế của tổ chức định giá chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật, cộng (+) các chi phí liên quan trực tiếp mà bên nhận tài sản phải chi ra tính đến thời điểm đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng như chi phí thuê tổ chức định giá; chi phí nâng cấp, lắp đặt, chạy thử…
g) Tài sản cố định hữu hình nhận góp vốn, nhận lại vốn góp:
TSCĐ nhận góp vốn, nhận lại vốn góp là giá trị do các thành viên, cổ đông sáng lập định giá nhất trí; hoặc doanh nghiệp và người góp vốn thoả thuận; hoặc do tổ chức chuyên nghiệp định giá theo quy định của pháp luật và được các thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận.
2. Xác định nguyên giá tài sản cố định vô hình:
a) Tài sản cố định vô hình mua sắm:
Nguyên giá TSCĐ vô hình mua sắm là giá mua thực tế phải trả cộng (+) các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại) và các chi phí liên quan trực tiếp phải chi ra tính đến thời điểm đưa tài sản vào sử dụng.
+ Trường hợp TSCĐ vô hình mua sắm theo hình thức trả chậm, trả góp, nguyên giá TSCĐ là giá mua tài sản theo phương thức trả tiền ngay tại thời điểm mua (không bao gồm lãi trả chậm).
b) Tài sản cố định vô hình mua theo hình thức trao đổi:
Nguyên giá TSCĐ vô hình mua theo hình thức trao đổi với một TSCĐ vô hình không tương tự hoặc tài sản khác là giá trị hợp lý của TSCĐ vô hình nhận về, hoặc giá trị hợp lý của tài sản đem trao đổi (sau khi cộng thêm các khoản phải trả thêm hoặc trừ đi các khoản phải thu về) cộng (+) các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại), các chi phí liên quan trực tiếp phải chi ra tính đến thời điểm đưa tài sản vào sử dụng theo dự tính.
Nguyên giá TSCĐ vô hình mua dưới hình thức trao đổi với một TSCĐ vô hình tương tự, hoặc có thể hình thành do được bán để đổi lấy quyền sở hữu một tài sản tương tự là giá trị còn lại của TSCĐ vô hình đem trao đổi.
c) Tài sản cố định vô hình được cấp, được biếu, được tặng, được điều chuyển đến:
Nguyên giá TSCĐ vô hình được cấp, được biếu, được tặng là giá trị hợp lý ban đầu cộng (+) các chi phí liên quan trực tiếp phải chi ra tính đến việc đưa tài sản vào sử dụng.
Nguyên giá TSCĐ được điều chuyển đến là nguyên giá ghi trên sổ sách kế toán của doanh nghiệp có tài sản điều chuyển. Doanh nghiệp tiếp nhận tài sản điều chuyển có trách nhiệm hạch toán nguyên giá, giá trị hao mòn, giá trị còn lại của tài sản theo quy định.
d) Tài sản cố định vô hình được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp:
Nguyên giá TSCĐ vô hình được tạo ra từ nội bộ doanh nghiệp là các chi phí liên quan trực tiếp đến khâu xây dựng, sản xuất thử nghiệm phải chi ra tính đến thời điểm đưa TSCĐ đó vào sử dụng theo dự tính.
Riêng các chi phí phát sinh trong nội bộ để doanh nghiệp có nhãn hiệu hàng hoá, quyền phát hành, danh sách khách hàng, chi phí phát sinh trong giai đoạn nghiên cứu và các khoản mục tương tự không đáp ứng được tiêu chuẩn và nhận biết TSCĐ vô hình được hạch toán vào chi phí kinh doanh trong kỳ.
đ) TSCĐ vô hình là quyền sử dụng đất:
- TSCĐ vô hình là quyền sử dụng đất bao gồm:
+ Quyền sử dụng đất được nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất hoặc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp (bao gồm quyền sử dụng đất có thời hạn, quyền sử dụng đất không thời hạn).
+ Quyền sử dụng đất thuê trước ngày có hiệu lực của Luật Đất đai năm 2003 mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả trước tiền thuê đất cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất là năm năm và được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Nguyên giá TSCĐ là quyền sử dụng đất được xác định là toàn bộ khoản tiền chi ra để có quyền sử dụng đất hợp pháp cộng (+) các chi phí cho đền bù giải phóng mặt bằng, san lấp mặt bằng, lệ phí trước bạ (không bao gồm các chi phí chi ra để xây dựng các công trình trên đất); hoặc là giá trị quyền sử dụng đất nhận góp vốn.
- Quyền sử dụng đất không ghi nhận là TSCĐ vô hình gồm:
+ Quyền sử dụng đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất.
+ Thuê đất trả tiền thuê một lần cho cả thời gian thuê (thời gian thuê đất sau ngày có hiệu lực thi hành của Luật đất đai năm 2003, không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) thì tiền thuê đất được phân bổ dần vào chi phí kinh doanh theo số năm thuê đất.
+ Thuê đất trả tiền thuê hàng năm thì tiền thuê đất được hạch toán vào chi phí kinh doanh trong kỳ tương ứng số tiền thuê đất trả hàng năm.
- Đối với các loại tài sản là nhà, đất đai để bán, để kinh doanh của công ty kinh doanh bất động sản thì doanh nghiệp không được hạch toán là TSCĐ và không được trích khấu hao.
e) Nguyên giá của TSCĐ vô hình là quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ: là toàn bộ các chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra để có được quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
g) Nguyên giá TSCĐ là các chương trình phần mềm:
Nguyên giá TSCĐ của các chương trình phần mềm được xác định là toàn bộ các chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã bỏ ra để có các chương trình phần mềm trong trường hợp chương trình phần mềm là một bộ phận có thể tách rời với phần cứng có liên quan, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
3. Tài sản cố định thuê tài chính:
Nguyên giá TSCĐ thuê tài chính phản ánh ở đơn vị thuê là giá trị của tài sản thuê tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản cộng (+) với các chi phí trực tiếp phát sinh ban đầu liên quan đến hoạt động thuê tài chính.
Chú ý: Nguyên giá tài sản cố định của doanh nghiệp chỉ được thay đổi trong các trường hợp sau:
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại long biên
a) Đánh giá lại giá trị TSCĐ trong các trường hợp:
- Theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Thực hiện tổ chức lại doanh nghiệp, chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp: chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, cổ phần hoá, bán, khoán, cho thuê, chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn thành công ty cổ phần, chuyển đổi công ty cổ phần thành công ty trách nhiệm hữu hạn.
- Dùng tài sản để đầu tư ra ngoài doanh nghiệp.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hai bà trưng
b) Đầu tư nâng cấp TSCĐ.
c) Tháo dỡ một hay một số bộ phận của TSCĐ mà các bộ phận này được quản lý theo tiêu chuẩn của 1 TSCĐ hữu hình.
Khi thay đổi nguyên giá TSCĐ, doanh nghiệp phải lập biên bản ghi rõ các căn cứ thay đổi và xác định lại các chỉ tiêu nguyên giá, giá trị còn lại trên sổ kế toán, số khấu hao luỹ kế, thời gian sử dụng của TSCĐ và tiến hành hạch toán theo quy định.
dịch vụ chữ ký số tại quận hà đông
Tổng hợp
[Read More...]
Trong hơn 400 trường đại học, cao đẳng hiện nay, trên ½ số trường đào tạo chuyên ngành kế toán, chưa kể đến các trường trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề. Trường Đại học Điện lực (EPU) là một ví dụ điển hình cho xu hướng đào tạo kế toán với một lối đi riêng: Gắn kết đào tạo và thực hành thông qua hợp tác với các doanh nghiệp và sự hỗ trợ tích cực từ các tổ chức nghề nghiệp…
Đào tạo kế toán gắn liền với doanh nghiệp và hội nhập Lễ ký kết đào tạo giữa Khoa với Tập đoàn Censtaf
70% sinh viên tốt nghiệp có việc làm phù hợp chuyên ngành
TS Trương Huy Hoàng, Hiệu trưởng cho biết, chuyên ngành kế toán tại EPU được đưa vào giảng dạy từ năm học 2008 - 2009 đến nay với quy mô đào tạo ngày càng mở rộng, giữ ổn định. Theo phản hồi từ phía người học, 70% sinh viên tốt nghiệp hệ đại học chuyên ngành kế toán đã có việc làm phù hợp với chuyên ngành đào tạo. Qua thống kê, số lượng sinh viên theo học ngành kế toán tại EPU qua các năm ngày một tăng với điểm chuẩn đầu vào tăng tương ứng cho thấy thương hiệu EPU đã được nhiều người biết đến.
Nội dung, chương trình đào tạo là một trong những yếu tố quan trọng quyết định tới việc thực hiện mục tiêu đào tạo và phải không ngừng đổi mới cho phù hợp với tình hình thực tế. Trong những năm qua, nội dung chương trình đào tạo của EPU nói chung, chuyên ngành kế toán nói riêng đã được đổi mới theo hướng thường xuyên cập nhật, đảm bảo tính khoa học, thực tiễn, đảm bảo việc thích nghi với xu thế hội nhập quốc tế.
EPU đã thực hiện khá tốt mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về kế toán, sinh viên ra trường có việc làm đúng chuyên ngành, doanh nghiệp không phải đào tạo lại, chương trình học của bộ môn luôn được thiết kế chặt chẽ, kết hợp lý thuyết chuyên sâu với thực hành nghề nghiệp.
TS Nguyễn Tố Tâm, Phó trưởng Khoa Quản trị kinh doanh cho biết, một trong những bí quyết là sinh viên năm cuối trước khi chuẩn bị tốt nghiệp sẽ được tiếp cận môn “Thực hành môn học”. Với môn học này sinh viên sẽ được tiếp cận với công việc kế toán thực tế (tiếp cận chứng từ, lập chứng từ; ghi chép sổ sách theo các hình thức kế toán và phần mềm kế toán; lập báo cáo tài chính; phân tích báo cáo tài chính; thực hiện kê khai, quyết toán thuế...). Trước đó, sinh viên đã được hệ thống hoá kiến thức với yêu cầu về kỹ năng thực hành về hệ thống thông tin kế toán, tổ chức công tác kế toán, thực hành thuế của những kỳ học trước. Với thời gian 4 tuần thực hành môn học, sinh viên kế toán được trải nghiệm thực tế tại một doanh nghiệp có đào tạo thực tiễn, có kinh nghiệm tư vấn, tuyển dụng. Song song đó, sinh viên kế toán EPU còn thường xuyên được tham quan, kiến tập và thực tập thực tế tại các ngân hàng, doanh nghiệp, công ty tạo cơ hội tiếp cận thực tế hơn nữa cho sinh viên ngay từ năm học thứ 2, 3.
Một bí quyết quan trọng nữa, theo bà Tâm đó là phần lớn giảng viên tại khoa là giảng viên trẻ, tâm huyết với nghề nghiệp, không ngừng học tập trau dồi kiến thức. 100% các giảng viên đều có trình độ sau đại học đều tham gia viết giáo trình chuyên ngành để phục vụ cho công tác giảng dạy, tham gia nghiên cứu khoa học, hướng dẫn sinh viên thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, chuyên đề, khóa luận tốt nghiệp, tham gia đề tài cấp trường, cấp bộ... Trình độ ngoại ngữ (Tiếng Anh) của giảng viên đáp ứng yêu cầu tuyển dụng của nhà trường với chuẩn IELTS 5.5. Các giảng viên trẻ dưới sự hỗ trợ của Hiệp hội Kế toán viên công chứng Anh quốc ACCA, các trung tâm đào tạo của ACCA như Smarttrain, Vietsourcing, FTMS tham gia học tập nâng cao trình độ các chứng chỉ nghề nghiệp quốc tế, đáp ứng yêu cầu giảng dạy về tiếp cận kiến thức hội nhập, ngoại ngữ chuyên ngành.
Điểm mới trong đào tạo kế toán tại EPU
Có một thực tế không thể phủ nhận là sinh viên tốt nghiệp ngành kế toán ở Việt Nam mới ra trường rất ít người có thể áp dụng những gì mình đã học được ở trường vào công việc được giao, quá trình xử lý công việc còn nhiều bỡ ngỡ, trình độ ngoại ngữ, giao tiếp kém. Một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này là do chất lượng đào tạo nhân lực trong ngành kế toán còn nhiều bất cập.
TS Trương Huy Hoàng cho biết, EPU đã buộc phải đổi mới căn bản chương trình, nội dung và phương thức đào tạo với 4 điểm quan trọng.
Thứ nhất, cập nhật nội dung đào tạo vừa đảm bảo kiến thức lý thuyết cơ bản vừa đảm bảo có tính thực tế. Kế toán là ngôn ngữ kinh doanh bằng con số, vì vậy con số kế toán phải là con số biết nói, con số phản ánh thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp. Do đó, nội dung đào tạo phải cung cấp cho người học kỹ năng nhìn nhận, đánh giá, phân tích thông tin tài chính tổng hợp. Bên cạnh những kiến thức chuyên môn cần trang bị cho sinh viên kỹ năng mềm như: Kỹ năng giao tiếp; kỹ năng phát triển nghề nghiệp với định hướng nghề nghiệp rõ ràng như tham dự các kỳ thi và được cấp chứng chỉ hành nghề CPA, ACCA để khẳng định nghề nghiệp, có nhiều cơ hội để tham gia hoạt động kế toán các doanh nghiệp, tập đoàn trong và ngoài nước.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại hải phòng
Thứ hai, đổi mới phương pháp đào tạo. Hạn chế cách đào tạo truyền thống, nặng về lý thuyết xa rời thực tế, điều này sẽ làm cho sinh viên bỡ ngỡ khi ra trường tiếp cận vào công việc. EPU phát huy tư duy nghiên cứu, tính chủ động sáng tạo và độc lập của sinh viên, tăng cường các bài tập tình huống, trao đổi hai chiều giữa người dạy và người học.
Thứ ba, đào tạo đội ngũ giảng viên vừa có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, có kiến thức thực tế và trình độ ngoại ngữ tốt. EPU đã tăng cường tính chuyên nghiệp, hiểu biết kỹ năng thực tế của giảng viên, khuyến khích giảng viên tham gia thực hiện các công việc thực tế: Ghi sổ kế toán, lập báo cáo tài chính, tư vấn, soát xét công tác kế toán tại các doanh nghiệp với một số thời gian phù hợp. Việc chủ động đưa những buổi Seminar về những phát sinh trong thực tế công tác (thông qua các website) hoặc một chủ đề cụ thể của nghề kế toán sẽ đem lại những hiệu quả tích cực.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận ba đình
Thứ tư, nâng cao năng lực nghiên cứu của giảng viên, sinh viên. Đề xuất này giúp việc gắn kết kết quả nghiên cứu khoa học không trở nên lãng phí, tăng năng lực nghiên cứu cho các nhà nghiên cứu và trường đại học trong quản lý kinh tế.
Khoa Quản trị Kinh doanh đã thực hiện ký kết biên bản hợp tác, một số thoả thuận trong công tác đào tạo, hợp tác đào tạo với: Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam; Trung tâm Nghiên cứu Đào tạo cán bộ và Tư vấn Tài chính - Kế toán - Thuế; Hiệp hội Kế toán công chứng Anh quốc; Công ty Smarttrain; Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn tài chính quốc gia; Tập đoàn Nguồn lực Việt; Tập đoàn FTMS; Tập đoàn Keybanker; Công ty CP Misa.
dịch vụ chữ ký số tại quận hoàn kiếm
Theo thanhtra
[Read More...]
Ngày 20/10/2016 tại khách sạn Crowne Plaza, Hiệp hội Kế toán Quốc tế AIA đã tổ chức lễ ra mắt văn phòng đại diện tại Việt Nam.
Đại diện các tổ chức chụp ảnh lưu niệm
Lễ ra mắt có sự tham dự của đại diện từ các tổ chức Quốc tế hoạt động tại Việt Nam như Đại sứ Giles Lever - Đại sứ quán Vương Quốc Anh, ngài Lord Puttnam - Đặc phái viên Thương mại và Văn hóa của thủ tướng Anh tại Việt Nam, ngài Richard R.C. Shih - trưởng đại diện Văn phòng văn hóa kinh tế văn hóa đài bắc tại Hà nội, Hội trưởng hội thương gia Đài Loan tại Hà Nội; đại diện các hiệp hội hành nghề kế toán kiểm toán như VACPA, các đối tác đào tạo của AIA Đại học Thành Đô, Đại học Thành Tây cùng đại diện các trường đại học và các bạn sinh viên trên địa bàn Hà nội...
Bà Sharon Gorman - Giám đốc phát triển toàn cầu AIA cho biết: "Chúng tôi rất hi vọng giới thiệu chứng chỉ nghề nghiệp kế toán quốc tế AIA đến những người làm trong lĩnh vực kế toán - tài chính - ngân hàng, cũng như các bạn sinh viên chuyên ngành này, đóng góp vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ kế toán viên, kiểm toán viên tại Việt Nam lên tầm quốc tế.
AIA là một tổ chức kế toán viên chuyên nghiệp trên toàn cầu, với lịch sử hơn 85 năm hoạt động. Chứng chỉ AIA được công nhận tại châu Âu (EU), châu Á, Mỹ và nhiều quốc gia và khu vực. Với mạng lưới phủ khắp 86 quốc gia trên thế giới, số lượng hội viên của AIA không ngừng tăng lên và hiện con số là hơn 150 nghìn người.
Bằng việc ra mắt văn phòng đại diện tại Việt Nam, AIA một lần nữa thể hiện cam kết mạnh mẽ của mình trong việc hỗ trợ và phát triển ngành kế toán kiểm toán tại Việt Nam trong việc hội nhập với thị trường quốc tế
Bà Joanna Liu - trưởng đại diện Hiệp hội kế toán AIA tại Việt Nam chia sẻ: “Chúng tôi muốn cung cấp nhiều sự lựa chọn hơn cho sinh viên, sinh viên có thể tham dự chương trình học AIA ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Sau khi tốt nghiệp các bạn không chỉ nhận được bằng tốt nghiệp đại học mà còn có cả chứng chỉ nghề nghiệp quốc tế, điều này sẽ tạo thuận lợi rất nhiều khi ứng tuyển vào các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nước ngoài, đồng thời tăng cơ hội thăng tiến nghề nghiệp.
Huân tước Lord Puttnam - Đặc phái viên Thương mại và Văn hóa của thủ tướng Anh tại Việt Nam chia sẻ “Ông đánh giá cao tính chuyên nghiệp, sự công chính trong hoạt động kế toán, vì vậy ngài tin tưởng rằng chương trình học mang tính quốc tế của AIA sẽ đạt được thành công tại thị trường Việt Nam.”
Ông Phạm Sỹ Danh - Chủ tịch Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam cho biết: "VACPA hoan nghênh và ủng hộ phương châm hoạt động của AIA. Tôi tin rằng, trong thời gian tới, Hiệp hội Kế toán quốc tế (AIA) tại Việt Nam, Công ty CSKM Global Institute Ltd sẽ phát huy được các kết quả đáng mong đợi, hoàn thành tốt mục tiêu đặt ra là đào tạo được thế hệ kế toán viên đạt đẳng cấp quốc tế thông qua cung cấp các chứng chỉ có chất lượng, phù hợp và cải tiến, tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao ngành kế toán, kiểm toán cho doanh nghiệp, qua đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam”.
Học kế toán tổng hợp thực hành Tại thủ đức
Hiệp hội kế toán quốc tế AIA với sự đồng hành của công ty CSKM GLOBAL INSTITUE - Đại diện AIA tại Việt Nam. Công ty CSKM đã có nhiều kinh nghiệm trong việc phát triển chương trình học AIA tại Đài Loan, đến Việt Nam AIA và CSKM Việt Nam trong thời gian qua đã có nhiều hoạt động giới thiệu chứng chỉ kế toán quốc tế AIA đến với các trường đại học trong nước. Chỉ trong thời gian ngắn, AIA đã tiến hành ký kết thỏa thuận miễn giảm môn học cho trường Đại học Thành Đô và Đại học Thành Tây. AIA hiện tại đang tiến hành đàm phán với các trường đại học khác và hy vọng sẽ ký kết công nhận chương trình học tương đương trong tương lai. Điều này sẽ tạo điều kiện dễ dàng hơn cho sinh viên, cũng như giảng viên khi theo học các chứng chỉ quốc tế, giảm chi phí và thời gian đào tạo mà vẫn đảm bảo chất lượng chương trình học. Hoạt động này thể hiện nỗ lực trong việc xúc tiến nhằm phổ biến chứng chỉ AIA đối với sinh viên, giảng viên cũng như nhân sự ngành tài chính, kế toán kiểm toán tại Việt Nam.
dịch vụ làm báo cáo tài chính giá rẻ tại quận hai bà trưng
Cũng nhân dịp này, đại diện Hiệp hội kế toán quốc tế AIA - Giám đốc phát triển AIA toàn cầu bà Sharon Gorman đã trao chứng nhận trung tâm đào tạo chương trình AIA cho trường đại học Thành Tây và đại học Thành Đô.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam ngày một nhiều, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập TPP. Nguồn nhân sự kế toán kiểm toán chất lượng cao vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Sự ra đời của Hiệp hội kế toán quốc tế AIA tại Việt Nam rất kịp thời đúng lúc, chương trình học AIA theo tiêu chuẩn quốc tế, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và xã hội.
dịch vụ chữ ký số tại quận hà đông
Theo dantri
[Read More...]